CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tìm hiểu về cây hồ tiêu Hồ tiêu (Piper nigrum L.) là cây thân leo, dài, nhẵn, có tuổi thọ trung bình từ 10 – 12 năm [1]. Cây có rất nhiều nhánh hình thành từ kẽ lá. Trong quá trình trồng trọt, các nhánh của tiêu được đặt trên các giá đỡ hoặc bám trên cây cao, vì thế, cây có thể đạt được chiều cao từ 20 m trở lên (Hình 1.
Các lá dày và mịn, hình dáng của lá thay đổi từ hình trứng, hình elip đến hình mũi mác [3]. Cây tiêu được trồng để lấy quả (hạt). Quả tiêu thường nhỏ, có hình cầu, mọc thành chùm theo hình xoắn ốc trên một cuống, gồm 50 – 60 quả [1]. Quả non có màu xanh, hình cầu đường kính khoảng 5 - 6 mm, khi chín quả chuyển sang màu vàng đỏ và thịt quả mềm hơn.
Quả khô màu nâu đen, vỏ quả nhăn nhúm, bóc hết vỏ thường có đường kính khoảng 3 - 4 mm (Hình 1. Hình ảnh cây tiêu Hình 1. Hình ảnh quả tiêu (quả non - quả chín - quả khô) 2 Hạt tiêu đen là một trong những loại gia vị lâu đời nhất và được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Hạt tiêu đen có nguồn gốc từ Đông Nam Á và được trồng rộng rãi ở các vùng nhiệt đới.
Tính đến năm 2008, Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu hạt tiêu lớn nhất thế giới, sản xuất 34% sản lượng tiêu của thế giới. Các nước sản xuất lớn khác bao gồm Ấn Độ (19%), Malaysia (8%), Sri Lanka (6%), Trung Quốc (6%) và Thái Lan (4%) [5]. Ở nước ta, hai vùng có diện tích trồng hồ tiêu lớn nhất là Đông Nam Bộ và Tây Nguyên, trọng điểm là các tỉnh Bình Phước, Đắk Nông, Đắk Lắk, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và Gia Lai. Quy trình sản xuất hạt tiêu Đề tài nghiên cứu dựa trên hai loại tiêu chính là tiêu đen và tiêu sọ (Hình 1.
Thông thường, hạt tiêu chủ yếu được chế biến thành tiêu đen (chiếm 80%), còn lại sẽ được chế biến thành tiêu trắng [1]. Hạt tiêu đen và tiêu sọ 1. Quy trình sản xuất hạt tiêu đen Hạt tiêu đen đạt chuẩn theo TCVN 5837:1994 là hạt khô, sạch, đồng đều [6]. Hạt có lớp vỏ khô, nhăn, có màu từ nâu thẫm, nâu xám đến đen.
Hạt tiêu đen phải trải qua nhiều công đoạn xử lý nhằm đạt được tiêu chuẩn để tiêu thụ. Tuổi thu hái thường từ 6 đến 7 tháng, vào những ngày nhiều nắng, thời điểm quả bắt đầu chuyển từ màu xanh sang màu vàng. Việc xử lý sau thu hoạch rất quan trọng để đạt được 3 sản phẩm chất lượng cao. Sau đó, quả hồ tiêu cần được tách ra khỏi chùm bằng máy tuốt cơ học hoặc thủ công như giẫm đạp, đập bằng gậy hoặc bằng tay [2].
Quá trình chần tiêu bằng nước nóng tại 80 oC trong 2 phút cần được tiến hành để làm tăng màu đen bóng của quả, loại bỏ bụi, vi sinh vật và đẩy nhanh quá trình làm khô. Do đó, quả chần chỉ cần phơi nắng từ 2 đến 3 ngày [7] trên tấm bạt cho đến khi chuyển thành màu đen và độ ẩm giảm xuống thấp hơn 12% [8]. Các hạt tiêu khô được phân loại theo các tiêu chuẩn khác nhau bằng phương pháp sàng cơ học để loại bỏ 90% tạp chất như cát, bụi mịn, đầu kim rồi tiến hành sàng đảo phân loại theo kích thước khảo sát. Sau đó, công đoạn xử lý vi sinh được tiến hành bằng cách phun hơi nước có nhiệt độ từ 120 – 140 oC vào hạt tiêu trong thời gian ngắn (khoảng 20 – 40 giây) [9].
Thành phẩm đạt tiêu chuẩn về chất lượng sẽ được đóng gói và bảo quản (Hình 1. Việc bảo quản hồ tiêu cần các điều kiện tối ưu như độ ẩm (dưới 12%), không bị sâu bệnh. Hạt tiêu thường được đóng gói trong túi vải bố chất liệu nhựa polyethylene [7]. Quy trình sản xuất hạt tiêu đen 1.
Quy trình sản xuất hạt tiêu sọ Tiêu sọ là một loại gia vị phổ biến được sử dụng trong các món ăn Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan và phương Tây. Mùi thơm của tiêu sọ khá ngọt và thơm nồng nhưng ít hăng hơn so với tiêu đen. Việc sử dụng tiêu sọ thay cho tiêu đen có thể tránh được các 5 đốm đen từ hạt tiêu đen xay làm ảnh hưởng đến hình thức thực phẩm và giảm sự hài lòng của người tiêu dùng [1]. Tiêu sọ được sản xuất từ những quả tiêu gần chín.
Trong giai đoạn đầu, những quả mọng chín đỏ được thu hoạch và loại bỏ cuống. Nếu tỉ lệ quả chín thấp, chùm tiêu sẽ được ủ đến khi chín ít nhất 80% số quả trong chùm. Sau đó, quả tiêu được tách ra bằng máy hoặc thủ công rồi tiến hành sàng để loại bỏ tạp chất, sạn đá, các phụ phẩm khác và phân loại theo các kích thước khác nhau [3]. Sau đó, tiêu sẽ được tiếp tục phân loại khí động học, phân loại tỷ trọng xoắn ốc để tách các quả nhẹ và các quả móp méo [10].
Phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất để sản xuất tiêu sọ là phương pháp ngâm nước. Quả tiêu chín được cho vào các bao đay rồi ngâm trong nước từ 7 đến 15 ngày để phân hủy phần vỏ của quả. Thời gian ngâm có thể thay đổi tùy thuộc vào các điều kiện như nhiệt độ và vi sinh vật có trong nước ngâm [1]. Khi lớp vỏ bị phân hủy, tiêu sẽ được xát vỏ lần đầu và làm sạch bằng nước để tiếp tục chuẩn bị cho công đoạn ngâm ủ lần thứ 2.
Quá trình này được lặp lại nhằm loại bỏ hoàn toàn vỏ quả tiêu. Tương tự công đoạn trước, tiêu sau ngâm sẽ được xát vỏ lần 2 và rửa sạch với nước. Để tăng tính mỹ quan về màu sắc cho hạt tiêu sọ, người ta tiến hành làm trắng với enzyme hoặc H2O2. Cuối cùng, hạt tiêu được làm ráo và sấy khô ở 70 oC cho đến khi độ ẩm của hạt tiêu đạt 13 - 14% [3].
Tiêu sọ thành phẩm sẽ được đóng bao và mang đi tiêu thụ (Hình 1. Hạt tiêu sọ đạt chuẩn để tiêu thụ là hạt khô, sạch, đồng đều, mặt hạt nhẵn, đỉnh hơi bẹt, cuống hạt hơi lồi với những vạch lõm nối từ đỉnh tới cuống hạt, màu từ xám nâu nhạt tới vàng ngà (TCVN 5837:1994) [6]. Quy trình sản xuất hạt tiêu sọ [3][10] 7 1. Các tiêu chuẩn về tiêu trên thế giới Hiện nay, việc đánh giá chất lượng sản phẩm hồ tiêu do các cơ quan khác nhau cung cấp như Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), Tiêu chuẩn Việt Nam, Tiêu chuẩn ASTA (Hiệp hội Thương mại Gia vị Hoa Kỳ), Hiệp hội Gia vị Châu Âu (ESA) và Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế (ISO) [1].
Theo bản sửa đổi thông số chất lượng của Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) năm 2015, chất lượng hạt tiêu nguyên hạt được đánh giá theo các chỉ tiêu vật lý, hóa học và vi sinh (Bảng 1. Tiêu chuẩn IPC đối với tiêu đen [11] Hạng Thông số I II III Vật lý Tỷ trọng (g/l), tối thiểu 550,0 500,0 450,0 Hạt bé / corns (m/m) %, tối đa 2,0 5,0 10,0 Vật lạ (m/m) %, tối đa 1,0 2,0 2,0 Hạt bị mốc %, tối đa 1,0 3,0 3,0 Hạt bị côn trùng (% khối lượng), tối đa 1,0 2,0 2,0 Côn trùng chết hoặc sống (% khối Không Không Không lượng), tối đa Chất thải của động vật có vú, tối đa Không Không Không Hạt vỡ % (m/m), tối đa 1,0 2,0 4,0 Hóa học Độ ẩm (%), tối đa 12,5 12,5 13,0 Tổng lượng tro, % (m/m), tối đa 6,0 7,0 7,0 Tinh dầu % (ml/100g), tối thiểu 2,0 2,0 2,0 Piperine, % (m/m), tối thiểu 4,0 3,5 3,0 Vi sinh 8 Escherichia coli (MPN/g) tối đa <3 <3 <3 Salmonella (trong 25g) Âm tính Âm tính Âm tính Aflatoxin Aflatoxin tổng số (B1+B2+G1+G2) 20 20 20 (µg/kg), tối đa Bảng 1. Tiêu chuẩn IPC đổi với tiêu trắng [11] Hạng Thông số I II III Vật lý Tỷ trọng (g/l), tối thiểu 600,0 600,0 550,0 Hạt bé, vụn (m/m) %, tối đa 1,0 2,0 2,0 Vật lạ %(m/m), tối đa 0,8 1,5 2,0 Hạt bị mốc %, tối đa 1,0 3,0 3,0 Hạt bị côn trùng (% khối lượng), tối đa 1,0 2,0 2,0 Côn trùng chết hoặc sống (% khối lượng), Không Không Không tối đa Chất thải của động vật có vú, tối đa Không Không Không Hạt vỡ % (m/m), tối đa 2,0 3,0 3,0 Hóa học Độ ẩm (%), tối đa 12,0 13,0 14,0 Tổng lượng tro, % (m/m), tối đa 3,5 4,0 4,0 Tinh dầu % (mL/100g), tối thiểu 1,5 1,5 1,0 Piperine, % (m/m), tối thiểu 4,0 3,5 3,0 Vi sinh Escherichia coli (MPN/g), tối đa <3 <3 <3 Salmonella (trong 25g) Âm tính Âm tính Âm tính 9 Aflatoxin Aflatoxin tổng số (B1+B2+G1+G2) 20 20 20 (µg/kg), tối đa. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hạt tiêu Chất lượng hạt tiêu phần lớn được xác định bởi kích thước quả, màu sắc, độ ẩm, lượng vi sinh vật, phân động vật hoặc côn trùng phá hoại [8].
Năng suất và chất lượng hạt tiêu có thể bị ảnh hưởng bởi việc thu hái cũng như các điều kiện khí hậu, địa chất. Bên cạnh đó, sự khác nhau về giống loài cũng là một yếu tố quyết định đến kích thước quả, màu sắc, hình dạng, thành phần hóa sinh của hạt tiêu [7]. Thành phần hóa học của hạt tiêu có thể thay đổi so dự khác biệt về giống, địa lý [12], cách xử lý sau thu hoạch cũng như cách bảo quản và lưu trữ hạt tiêu [7]. Các yếu tố khí hậu, địa chất Hồ tiêu thích nghi với những vùng có điều kiện khí hậu tối ưu.
Các khu vực sản xuất hồ tiêu có sự khác biệt về nhiệt độ không khí, độ ẩm và lượng mưa. Các điều kiện môi trường như chiếu xạ và độ ẩm của đất ảnh hưởng đến chức năng quang hợp của cây tiêu [7]. Nghiên cứu của D. Sruthi và cộng sự cho thấy độ cao cũng là yếu tố tác động đến sự thay đổi thành phần dựa dầu, hàm lượng piperine, tổng hàm lượng chất xơ, tinh bột, chất béo, dung trọng và thành phần tinh dầu tạo nên hương thơm có trong tiêu [13].
Thời gian thu hái Sự tiến bộ trong việc đa dạng hóa sản phẩm đòi hỏi việc thu hoạch quả mọng ở các giai đoạn chín khác nhau để đáp ứng nhu cầu về sản phẩm. Thời kỳ chín của hạt tiêu thay đổi từ 6 – 8 tháng, tùy theo điều kiện môi trường và giống được trồng [7]. Mức độ chín cần thiết khi thu hái để chế biến thành các sản phẩm tiêu khác nhau được trình bày trong Bảng 1.