Chương 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Cây chè là một loại cây trồng mà đối tượng thu hoạch là búp (cơ quan sinh dưỡng) do vậy để có năng suất trong canh tác chè cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật ức chế sinh trưởng sinh thực (ra hoa, quả) và kích thích quá trình sinh trưởng tạo búp mới. Trong canh tác chè, những biện pháp kỹ thuật cơ bản nhất thường được nghiên cứu và áp dụng là các biện pháp đốn tỉa và các biện pháp bón phân. Đốn chè là biện pháp kỹ thuật không những có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển của cây mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè.
Với kỹ thuật đốn chè cần chú trọng dạng hình đốn và thao tác đốn. Trong điều kiện sinh thái nhất định cần đặt kỹ thuật đốn chè trong mỗi hoạt động sinh lý hút nước, tổng hợp và vận chuyển nhựa trong cây, ở mỗi vùng sinh thái thì kỹ thuật đốn, thời điểm đốn cũng khác nhau. Đốn chè phá vỡ cân bằng giữa thân, lá và rễ, thúc đẩy hình thành một cân bằng mới sau đốn. Nếu ta không tạo cho cây chè một cân bằng mới sau đốn thì cây chè sẽ cho búp kém.
Tuy nhiên việc đốn chè thường tiến hành vào giai đoạn cuối năm (tháng 12), tháng có nhiệt độ thấp, để cây chè vào chu kỳ ngủ nghỉ sau đó bắt đầu một đợt sinh trưởng mới vào vụ xuân. Tuy nhiên tại xã Suối Giàng, người dân đốn chè theo cách truyền thống là đốn vào tháng 4 trong năm vì vậy việc nghiên cứu thời vụ đốn trên cây chè Shan tại xã Suối Giàng cần thiết nhằm tìm ra thời vụ đốn hợp lý nhất cho cây chè shan tại xã Suối Giàng Phân bón có vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất chè. Hàng năm lượng vật chất hữu cơ lấy lấy đi từ sản phẩm thu hoạch là búp chè là khá lớn việc bón phân sẽ trả lại cho đất lượng chất dinh dưỡng đã bị cây trồng lấy đi từ đất, tuy nhiên theo phương pháp canh tác cổ truyền người dân ở xã Suối Giàng 5 huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái chưa biết bón phân cho cây chè Shan, mà hàng năm chỉ thu hoạch sản phẩm. Bên cạnh đó, để đảm bảo giữ vững được chất lượng chè shan thì việc sử dụng phân vô cơ trên chè shan là rất hạn chế, nhằm giữ được chất lượng chè.
Từ những cơ sở trên đòi hỏi phải có những nghiên cứu về thời vụ đốn và nghiên cứu về bón phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh cho chè shan tại xã Suối Giàng, trên cơ sở đó đưa ra thời vụ đốn thích hợp nhất và quy trình bón phân hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh cho chè shan tại xã Suối Giàng giúp bà con nhân dân tăng năng suất chè mà vẫn đảm bảo được chất lượng vốn có của chè Shan Suối Giàng và tăng hiệu quả kinh tế trong canh tác chè. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới 1. Tình hình sản xuất chè Chè là cây trồng có giá trị lịch sử lâu đời (trên 4000 năm).
Ngày nay chè là thứ nước uống chủ yếu và phổ biến trên thế giới với những sản phẩm chế biến đa dạng và phong phú. Những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy uống nước chè có tác dụng làm giảm quá trình viêm ở người bệnh thấp khớp, viêm gan mãn tính, làm tăng tính đàn hồi của thành mạch máu. Nước chè được dùng điều trị có kết quả các bệnh như lị, xuất huyết dạ dày, xuất huyết não và suy yếu mao mạch do tuổi già, làm giảm tác hại của phóng xạ [15]. Theo FAO (2012) [38] thì tình hình sản xuất chè, tiêu thụ chè trên thế giới tính đến năm 2012 như sau: Diện tích chè toàn thế giới là 3.275991 ha, Trong đó Trung Quốc vẫn là nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích đạt 1.000 ha, chiếm 46,1% diện tích chè toàn thế giới.
Thấp nhất là Nhật Bản với 45.4% diện tích chè toàn thế giới. Diện tích chè của Việt Nam chỉ chiếm 3.53% diện tích chè của thế giới. * Về năng suất: Năng suất chè khô trung bình toàn thế giới năm 2012 đạt 14,707 tạ/ha. Các nước đạt năng suất cao như Kenya 19,38 ta/ha, Nhật Bản: 18,715 tạ/ha, Ấn Độ: 16,529 ta/ha [38].
6 *Về sản lượng: Sản lượng chè trung bình toàn thế giới năm 2012 đạt 4. Đứng đầu về sản lượng là Trung Quốc đạt 1.902 tấn, chiếm 35,59% so với tổng sản lượng toàn thế giới. Sản lượng thấp nhất là Myanmar đạt 32.000 tấn, chiếm 0,66% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới. Sản lượng chè của Việt Nam chiếm tỷ lệ là 4,59% so với tổng sản lượng chè toàn thế giới [38].
Tình hình tiêu thụ chè * Về tiêu thụ: Năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế giới là 6,609 tỉ USD, 10 nước nhập khẩu chè lớn nhất thế giới đạt 2,18 tỉ đô la Mỹ, chiếm trên 50% tổng kim ngạch nhập khẩu chè toàn thế giới. Năm nước có kim ngạch nhập khẩu chè lớn nhất thế giới năm 2011 là Nga (625,18 triệu đô la), Anh (462 triệu đô la), Mỹ (440 triệu đô la), Nhật Bản (207 triệu đô la) [38]. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất, tiêu thụ chè ở Việt Nam Với hai phần ba diện tích đất đồi núi, Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cây chè sinh trưởng, phát triển.
Tuy nhiên ở Việt Nam sản xuất chè chỉ thực sự bắt đầu sau những năm 1925. Cây chè Việt Nam được một số nhà khoa học nghiên cứu tìm hiểu. Djemukhaze cho rằng miền bắc Việt Nam là một trong những nơi xác định là nguồn gốc của cây chè. Cây chè Việt Nam được chính thức nghiên cứu khảo sát vào năm 1885 do người Pháp tiến hành, sau đó vào các năm 1890 - 1891 người Pháp tiếp tục điều tra và thành lập đồn điền trồng chè đầu tiên ở Việt Nam năm 1890 ở Tĩnh Cương - Phú Thọ và thành lập các trạm nghiên cứu chè ở Phú Hộ (1918), Pleicu (1927) và Bảo Lộc (1931) [8].
Cây chè được trồng chủ yếu ở vùng trung du miền núi phía bắc và Tây Nguyên. Người trồng chè chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, nông dân nghèo từ miền xuôi lên khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới. Việc phát triển cây chè cùng với việc xây dựng cơ sở công nghiệp chế biến đã giải quyết việc làm cho hơn 20 vạn lao động, ổn định đời sống cho gần 10 vạn hộ gia đình, góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái, tạo ra 7 một số trung tâm công nghiệp - dịch vụ gắn liền với nông nghiệp. Góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào miền núi và Tây Nguyên [8].
Trong thời gian qua do có chính sách chủ trương phát triển chè đúng đắn của Nhà nước, các chính sách phát triển chè riêng của từng tỉnh, đặc biệt có sự hỗ trợ trực tiếp từ vốn, các hoạt động khuyến nông như tham quan, tập huấn kỹ thuật của dự án phát triển đã thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng chè nội tiêu và xuất khẩu, tình hình sản xuất chè của Việt Nam như sau: Tính hết năm 2012 diện tích chè đạt 115. Năng suất đạt 18,704 tạ khô/ha, sản lượng chè đạt 216. Tình hình sản xuất chè của tỉnh Yên Bái Thực hiện quy hoạch và định hướng của tỉnh, với những biện pháp chỉ đạo cụ thể, ngành chè Yên Bái đã phát triển toàn diện cả ba lĩnh vực: Trồng, chăm sóc, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Sản xuất chè đã thu được kết quả nhất định, đời sống người làm chè từng bước ổn định và phát triển.
Đến nay, diện tích chè được phân thành 2 vùng nguyên liệu cho chế biến chè đen và cho chế biến chè xanh. Năm 2012 tổng diện tích chè toàn tỉnh là: 11.158 ha, diện tích cho thu hoạch là: 10. Năng suất chè của Yên Bái không ngừng tăng lên do người dân được nâng cao về kiến thức trồng và chăm sóc chè. Năm 2000 năng suất chè chỉ đạt 50,8 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi là 40.
* Về cơ cấu giống chè: Cơ cấu giống: Chè Shan 2.850 ha chiếm 22,5% tổng diện tích chè toàn tỉnh; Chè lai LDP 1.555 ha chiếm 12,3% tổng diện tích chè toàn tỉnh; Chè nhập nội 1.630 ha chiếm 12,8 % tổng diện tích chè của tỉnh; Chè trung du 6.000 ha chiếm 47,5% tổng diện tích chè của tỉnh. Từ năm 2006 - 2010 đã tổ chức giâm ươm 53 triệu bầu giống chè các loại, trồng mới, trồng thay thế chè cũ đạt 2. Tình hình sản xuất chè của xã Suối Giàng huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái Diện tích chè Shan Suối Giàng năm 2010 đạt 394 ha, năng suất trung bình 12,18 tạ/ha, tổng sản lượng năm 2010 đạt: 480 tấn chè búp tươi. Năm 8 2011, diện tích không tăng lên, vẫn giữ nguyên 394 ha, năng suất tăng so với năm 2010, đạt 13,45 tạ/ha, sản lượng đạt 530 tấn búp tươi.
[35] Năm 2012, diện tích chè shan là: 394,0 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh là 394,0 ha, năng suất giảm so với năm 2011, chỉ đạt 12,69 tạ/ha. Đến năm 2013, toàn xã Suối Giàng đã trồng mới được 12,72 ha, nâng tổng số diện tích chè toàn xã lên 406,72 ha, trong đó diện tích chè kinh doanh vẫn là 394 ha, năng suất có cao hơn so với năm 2012, đạt 12, 75 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 502,2 tấn, năm 2014 tổng diện tích chè toàn xã là 409,8 ha, năng suất bình quân đạt 1,31 tấn/ha [35]. Diện tích chè Shan tại xã Suối Giàng hiện nay chủ yếu tập trung tại các thôn như: Pang Cáng, Bản Mới, Giàng B, Giàng A, Cang Kỷ nơi có độ cao trung bình từ 800 đến 1.100 m so với mặt nước biển, cá biệt có nơi có độ cao trên 1. Các thôn Tập Lăng 1, Tập Lăng 2, Suối Lóp diện tích chè ít, chất lượng theo đánh giá không ngon bằng các thôn tập trung nhiều chè.
Các thôn có diện tích chè ít có độ cao dưới 800 m so với mực nước biển, nhiệt độ cao hơn và ít sương mù hơn các thôn có diện tích nhiều chè tại xã. Đây sẽ là cơ sở khoa học thực tế cho việc mở rộng diện tích chè Shan trong tương lai và cũng là cơ sở cho việc nâng cao chất lượng chè shan Suối Giàng [35].