Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về dịch vụ vận tải hành khách 1.1 Khái niệm dịch vụ vận tải Vận tải là một hoạt động có mục đích của con người nhằm thay đổi vị trí của hàng hoá, hành khách trong không gian và thời gian cụ thể (Trần Thị Lan Hương và cộng sự , 2008). Vận tải đường bộ là hoạt động sử dụng phương tiện giao thông đường bộ để vận chuyển người, hàng hoá trên đường bộ (Luật GTĐB số 23/2008/QH12, 2008). Dịch vụ vận tải là một ngành tổ chức vận tải thực hiện việc chuyên chở hàng hoá hoặc con người từ một địa điểm này đến một địa điểm khác. Nói cách khác dịch vụ vận tải là một quá trình tổ chức, một sự kết hợp giữa vận tải và các hoạt động dịch vụ khác có liên quan.
Sản phẩm vận tải là sự di chuyển vị trí của đối tượng chuyên chở, cũng có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng (Trần Thị Lan Hương và cộng sự , 2008) Bản chất và hiệu quả mong muốn của sản phẩm vận tải là thay đổi vị trí chứ không phải thay đổi hình dáng, kích thước, tính chất lý hoá của đối tượng vận tải. Sản phẩm vận tải là sản phẩm cuối cùng của ngành giao thông vận tải, các quá trình đầu tư xây dựng, tổ chức quản lý đều nhằm mục đích tạo ra các sản phẩm vận tải chất lượng phục vụ nhu cầu vận tải của con người.2 Một số khái niệm cơ bản trong dịch vụ vận tải hành khách Từ cách hiểu dịch vụ vận tải như trên, nếu chia dịch vụ vận tải theo đối tượng chuyên chở ta sẽ có: dịch vụ vận tải hàng hoá, dịch vụ vận tải hành khách, dịch vụ vận tải hàng hoá - hành khách. Dịch vụ VTHK đó là dịch vụ vận tải có đối tượng phục vụ là con người. Cụ thể hơn dịch vụ VTHK là một ngành tổ chức vận tải thực hiện việc chuyên chở con người từ một địa điểm này tới địa điểm khác.
Hành khách là người được chở trên phương tiện VTHK đường bộ, có trả tiền. (Luật GTĐB số 23/2008/QH12, 2008) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Hành lý là vật phẩm mà hành khách mang theo trên cùng phương tiện hoặc gửi theo phương tiện khác. Trong mỗi loại hình vận tải đều quy định khối lượng hành lý nhất định mà hành khách có thể mang theo (không phải trả cước). Nếu vượt quá mức quy định thì hành khách phải trả cước hành lý (Luật GTĐB số 23/2008/QH12, 2008).
Tuyến vận tải khách là tuyến được xác định để xe ô tô khách vận chuyển khách từ một bến xe thuộc địa danh này đến một bến xe thuộc địa danh khác (Quyết định số 16/2007/QĐ-BGTVT, 2007). Chủ phương tiện là chủ sở hữu và quản lý ô tô. Người lái xe là người điều khiển xe cơ giới (Luật GTĐB số 23/2008/QH12, 2008). Kinh doanh VTHK là các hoạt động kinh tế có thu tiền nhằm thực hiện trách nhiệm chuyên chở hành khách, hành lý, hàng bao gửi và các dịch vụ vận tải hành khách.
Kinh doanh vận tải khách bằng ô tô là việc sử dụng xe ô tô khách để vận chuyển khách có thu tiền (Quyết định số 16/2007/QĐ-BGTVT, 2007). Bến xe khách là công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ thực hiện chức năng phục vụ xe ô tô đón, trả hành khách và các dịch vụ hỗ trợ VTHK công cộng (Thông tư số 18/2013/TT-BGTVT, 2013). Kinh doanh VTHK bằng ôtô theo tuyến cố định có xác định bến xe đến, bến xe đi với lịch trình, hành trình cố định (Luật GTĐB số 23/2008/QH12, 2008). Hành trình chạy xe được xác định bởi bến xe đi, bến xe đến, các tuyến đường bộ, các điểm đón, trả khách, điểm dừng nghỉ (nếu có) mà phương tiện đi qua (Thông tư số 18/2013/TT-BGTVT, 2013).3 Đặc điểm của dịch vụ vận tải hành khách Sản phẩm VTHK là sản phẩm đặc biệt, không có hình thái vật chất cụ thể, không tồn tại độc lập ngoài quá trình kinh doanh ra nó, được kinh doanh gắn liền với tiêu thụ, và chỉ tồn tại trong quá trình vận tải, nó không tồn tại sau khi tiêu thụ (như các sản phẩm vật chất thông thường) mà "biến mất" ngay khi quá trình vận tải kết thúc.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Sản phẩm vận tải không thể dự trữ được, nên để đáp ứng được nhu cầu tăng đột biến thì ngành vận tải phải dự trữ năng lực. Ngoài những đặc điểm cơ bản của dịch vụ, dịch vụ VTHK có những đặc điểm riêng, đặc trưng cho lĩnh vực này (Nguyễn Hồng Thái, 1999): - Đối tượng vận chuyển của VTHK là con người, đây là một đặc điểm hết sức quan trọng. Nó sẽ là cơ sở cho việc thiết lập và triển khai thực hiện các phương án chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. - Sản phẩm của VTHK không thể dự trữ, mà chỉ có năng lực vận tải được dự trữ, nhằm đáp ứng thay đổi nhu cầu theo mùa vụ.
- Sản phẩm của VTHK là sự di chuyển của hành khách trong không gian nhằm thoả mãn nhu cầu của con người. - Sản xuất trong quá trình VTHK là quá trình tác động về mặt không gian, chứ không tác động về mặt kỹ thuật vào đối tượng lao động. - Phương tiện vận tải ngoài việc đảm bảo về các đặc tính kỹ thuật còn phải tạo ra sự tiện nghi thoải mái cho khách hàng trong quá trình vận chuyển. Nhân viên lái xe phải có đủ trình độ về phẩm chất nghề nghiệp tạo ra sự an tâm cho khách hàng.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trước bối cảnh cạnh tranh hết sức gay gắt và yêu cầu ngày một cao từ phía khách hàng. - VTHK mang tính phân luồng phân tuyến khá rõ rệt, đặc điểm này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nhằm đảm bảo sự an toàn cho hành khách.4 Phân loại dịch vụ vận tải hành khách Căn cứ theo phạm vi sử dụng ta có: - VTHK công cộng - VTHK kinh doanh Căn cứ theo phương tiện vận tải, môi trường vận tải ta có: - VTHKđường thủy: gồm đường biển, đường sông - VTHK hàng không - VTHK đường bộ Căn cứ vào chất lượng dịch vụ vận tải ta có: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - VTHK với xe chất lượng cao - VTHK với xe thường Căn cứ theo Luật giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 ngày 13/11/ 2008 của Quốc hội ta có thể chia VTHK bằng ô tô ra thành: VTHK theo tuyến cố định: là việc kinh doanh VTHK bằng ô tô theo tuyến có xác định bến đi bến đến xe chạy theo lịch trình hành trình quy định. VTHK bằng xe buýt: là việc kinh doanh VTHK bằng ô tô theo tuyến cố định trong nội, ngoại thành phố, thị xã, có các điểm dừng đón trả khách và xe chạy theo biểu đồ vận hành. VTHK bằng taxi: là việc kinh doanh VTHK bằng ô tô không theo tuyến, thời gian và hành trình theo yêu cầu của khách, cước tính theo đồng hồ tính tiền.
VTHK theo hợp đồng: là việc kinh doanh VTHK bằng ô tô không theo tuyến cố định được thực hiện theo hợp đồng được ký kết giữa người thuê vận tải và người vận tải. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ xem xét đề cập tới dịch vụ VTHK bằng ô tô theo tuyến cố định 1.2 Tổng quan ngành dịch vụ vận tải tại Việt Nam Theo tổng kết hoạt động giao thông vận tải Việt Nam của BGTVT tính đến năm 2013 thì hoạt động vận tải đã quản lý chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực đường bộ, đường sắt, hàng không, hàng hải, đường thủy nội địa cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu vận tải trong và ngoài nước, nhất là vào các dịp Lễ, Tết. Vận tải hàng hóa và hành khách năm 2013 tăng trưởng, đạt hơn 1000 triệu tấn hàng và gần 3000 triệu lượt hành khách, tăng 5,4% về tấn vận chuyển, tăng 6,3% về hành khách vận chuyển so với năm 2012. Trong đó, vận tải hàng không tăng trưởng 16,7% về hành khách và 19,6% về hàng hóa, đã mở thêm 19 đường bay quốc tế và nội địa; hàng thông qua cảng biển ước đạt 326 triệu tấn, tăng 10,7%.
Dịch vụ Vận tải đường bộ là lĩnh vực được xã hội hóa mạnh mẽ, phát triển nóng với tất cả những ưu điểm và nhược điểm của nó. Số lượng phương tiện kinh doanh đã tăng hơn 10 lần trong hơn 10 năm qua, hiện có tới gần 103.000 xe khách và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.000 xe tải các loại, với 2.681 doanh nghiệp, 586 HTX và hàng chục ngàn hộ kinh doanh cá thể. Đa số các đơn vị vận tải có quy mô nhỏ lẻ, manh mún. Theo khảo sát có tới 60% các đơn vị vận tải khách tuyến cố định và gần 83% đơn vị vận tải khách theo hợp đồng chỉ có dưới 10 đầu xe/mỗi đơn vị.
Trình độ quản lý đa số ở mức rất thấp, chủ yếu khoán cho lái xe, vì vậy chất lượng dịch vụ thấp, TNGT nhiều. Quản lý nhà nước trên lĩnh vực này thời gian 10 năm qua có những chuyển biến nhất định với sự ra đời của Luật GTĐB năm 2001 và 2008. Công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này được đánh giá là chậm đổi mới, mang nặng tính mệnh lệnh hành chính, chưa theo kịp thực tiễn, chưa tạo được cơ chế thúc đẩy việc hiện đại hóa, chưa tạo được thị trường vận tải cạnh tranh lành mạnh, chưa khuyến khích được những đơn vị làm tốt, đào thải những đơn vị yếu kém. Đặc biệt, với vận tải hàng hóa, những quy định quản lý sơ sài, kém hiệu quả.3 Tình hình tuyến vận tải cố định ĐX – TPHCM Hình 1.1 : Lộ trình tuyến ĐX - TPHCM Hiện tại các doanh nghiệp tham gia phục vụ trên tuyến này gồm có Công ty TNHH vận tải Thành Công, HTX vận tải Đồng Xoài và HTX xuất khẩu Trung TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tuy nhiên với tình hình cạnh tranh gay gắt, do năng lực cạnh tranh yếu kém, tình trạng “Đi không, về vắng” của các chuyến xe dẫn đến nhiều chuyến xe phải rời bỏ bến. Cụ thể như HTX vận tải Đồng Xoài tính đến năm 2013 đã có 4 xe thuộc 3 xã viên đã bỏ bến chuyển sang lĩnh vực VTHK theo hợp đồng và kinh doanh khác. Trên tuyến đường này từ 3h15 đến 18h00 mỗi ngày có 37 tài chạy. HTX vận tải Đồng Xoài khai thác 11 tài/ngày.
HTX xuất khẩu Trung Nam khai thác 6 tài/ngày. Và Công ty TNHH vận tải khai thác 20 tài/ngày (trích trang web sở GTVT Bình Phước).4 Tổng quan về Công ty TNHH vận tải Thành Công 1.