Mở đầu: Trình bày một cách tổng thể nội dung của toàn bộ nghiên cứu. Chương này cho thấy lý do và vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết: Các lý thuyết cơ sở về vấn đề nghiên cứu, bao gồm các lý thuyết về du lịch, dịch vụ kinh doanh lưu trú và homestay, chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng, cũng như tìm hiểu về mối liên quan giữa sự kỳ vọng của khách du lịch (mức độ quan trọng) và sự trải nghiệm của khách du lịch (mức độ thực hiện). Thiết kế nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu: Chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu căn cứ từ việc nghiên cứu lý thuyết.
Ngoài ra còn bao gồm việc thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn, xây dựng thang đo, kế hoạch lấy mẫu, các phương pháp sẽ được sử dụng trong đề tài để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu: Nêu các kết quả phân tích dữ liệu bao gồm các phân tích thống kê mô tả, kiểm định so sánh cặp (paired – samples T-test), mô hình IPA. Kết luận và kiến nghị: Chương này nêu lên các kết luận sau khi phân tích thực nghiệm từ Chương 4. Từ đó, các khuyến nghị cũng được đưa ra đối với các bên liên quan.
Cuối cùng những hạn chế của nghiên cứu được chỉ ra, cũng như là đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Dịch vụ kinh doanh lƣu trú (homestay) 1.1 Dịch vụ Philip Kotler (1980) cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. Các đặc trưng của dịch vụ: - Tính vô hình (intangibility): sản phẩm của dịch vụ là sự thực thi, khách hàng không thể thấy, nếm, sờ, ngửi,… trước khi mua.
Đặc điểm này của dịch vụ gây rất nhiều khó khăn cho việc quản lý hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ. - Tính không thể chia tách (inseparability): sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất và phân phối chúng, quá trình cung ứng dịch vụ cũng là tiêu thụ dịch vụ. Do vậy, không thể giấu được cái sai lỗi của dịch vụ. - Tính không đồng nhất (heterogeneity): dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát.
Trước hết, do hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra dịch vụ như nhau trong khoảng thời gian hoàn toàn khác nhau, nghĩa là gần như không thể cung ứng dịch vụ hoàn toàn giống nhau. - Tính không thể bảo quản (perishability): dịch vụ không thể tồn kho, không thể vận chuyển từ khu vực này đến khu vực khác, không thể kiểm tra chất lượng khi cung ứng, người cung cấp chỉ còn cách làm đúng từ đầu và làm đúng mọi lúc.2 Du lịch và dịch vụ du lịch Trong Luật du lịch của Việt Nam năm 2017, thuật ngữ du lịch được hiểu như sau: “Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thõa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”. 9 *Dịch vụ du lịch Theo Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa (2006), dịch vụ du lịch là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch, và thông quá các hoạt tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch. Theo điều 4 Luật du lịch Việt Nam, dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin hướng dẫn và những dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
*Đặc điểm của dịch vụ du lịch Bản thân của dịch vụ du lịch là tập hợp của rất nhiều dịch vụ khác nhau để phụ vụ cho nhu cầu của khách du lịch, vì thế dịch vụ du lịch cũng mang những đặc tính chung của dịch vụ như: tính phi vật chất, tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng, có sự tham gia của khách du lịch trong quá trình tạo ra dịch vụ, tính không thể chuyển quyền sở hữu, tính không thể di chuyển, tính thời vụ và tính không đồng nhất về chất lượng lịch vụ.3 Dịch vụ kinh doanh lƣu trú (homestay) Cũng như nhiều loại hình dịch vụ khác, homestay có rất nhiều khái niệm khác nhau do nhiều nhà nghiên cứu đưa ra. Dịch vụ lưu trú homestay là việc du khách tham vào đời sống gia đình của người dân bản xứ thông qua việc học tập, du lịch, tham quan, tìm hiểu văn hóa,… Đặc biệt, theo hình thức này, du khách sẽ được “cùng ăn, cùng ở và cùng làm” với chủ nhà cũng như luôn được xem như là người trong gia đình (Thompson, 1998). Ở Anh, với truyền thống hiếu khách và cung cấp thực phẩm cho nông dân thời vụ đã góp phần phát triển các kỳ nghỉ tại nông trại, và bây giờ, nó trở thành hình 10 thức đa dạng hóa kinh doanh, mang lại nguồn thu đáng kể cho nông dân ở nhiều nơi trên đất nước (Davies and Turner, 1992). Theo Lanier và Berman (1993), địa điểm homestay là nhà riêng, trong đó các phòng không sử dụng được cho thuê với mục đích bổ sung thu nhập và gặp gỡ mọi người.
Homestay – là sự kết hợp giữa du lịch và giải trí, đã phát triển do nhu cầu tiếp cận nông thôn ngày càng tăng, di chuyển cá nhân là tốt hơn, thời gian giải trí nhiều hơn, không khí trong lành và các hoạt động vận động tích cực (Yahaya, 2004). Theo TCVN 7800:2009 về tiêu chuẩn nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê (homestay) là nơi sinh sống của người sở hữu nhà hoặc sử dụng hợp pháp trong thời gian cho thuê lưu trú, có trang thiết bị tiện nghi cho du khách thuê lưu trú, có thể có dịch vụ khác theo khả năng đáp ứng của chủ nhà. Đặc điểm của homestay là nơi hầu hết các hoạt động trao đổi văn hóa và tương tác giữa khách và gia đình chủ xảy ra. Gia đình chủ đóng vai trò chính yếu trong việc tổ chức và phục vụ khách du lịch, nguồn thu được phân bổ hợp lý, trước hết cho gia đình sau đó cho cả cộng đồng.
Đồng thời, mô hình homestay còn phục vụ cho việc bảo tồn, nâng cao chất lượng sống và phát triển cộng đồng, đem lại lợi ích kinh tế trực tiếp cho người dân địa phương. Homestay còn là nơi lưu trú tại địa phương, trong hoặc gần với các làng truyền thống thú vị mà du khách có thể lưu lại và quan sát cũng như tham gia các hoạt động của địa phương. Khách du lịch được đảm bảo sự trải nghiệm và hòa nhập vào các hoạt động của homestay, được tổ chức theo dạng cùng ăn, cùng ở, cùng làm, đem lại sự hòa nhập thật sự cho khách du lịch vào mọi mặt đời sống của người dân bản địa. Các mô hình đo lƣờng chất lƣợng dịch vụ Chất lượng dịch vụ trong ngành du lịch là kết quả của một quá trình, trong đó hàm ý sự hài lòng của tất cả các sản phẩm hợp pháp và nhu cầu dịch vụ, yêu cầu và mong đợi của người tiêu dùng, với một mức giá chấp nhận được, phù hợp với điều kiện hợp đồng chấp nhận lẫn nhau và các yếu tố quyết định chất lượng cơ bản như an toàn và an ninh, vệ sinh, khả năng tiếp cận, tính minh bạch, tính xác thực và sự hòa hợp của các hoạt động du lịch liên quan đến môi trường của con người và tự nhiên của nó (UNWTO, 2003).1 Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman (1985) Với các nhà nghiên cứu về chất lượng dịch vụ thì sự ra đời của mô hình SERVQUAL của Parasuraman và các cộng sự (1985 và 1988) được xem là cột mốc quan trọng của tiến trình phát triển lý thuyết và phương pháp luận trong nghiên cứu đánh giá chất lượng dịch vụ của nhiều lĩnh vực khác nhau.
Mô hình SERVQUAL khái quát các khoảng cách giữa chất lượng mà khách hàng kỳ vọng khi quyết định sử dụng một sản phẩm dịch vụ và chất lượng thật sự khách hàng nhận được khi sử dụng sản phẩm đó. 12 Theo mô hình trên thì khoảng cách về sự kỳ vọng của khách hàng và sự cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ (khoảng cách 5) bằng 4 khoảng cách còn lại, bao gồm: - Khoảng cách 1: khoảng cách chênh lệch về sự nhận thức của doanh nghiệp cung cấp về sự kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ và sự kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ đó. - Khoảng cách 2: khoảng cách chênh lệch giữa nhận thức của doanh nghiệp cung cấp về sự kỳ vọng của khách hàng và sự hành động của doanh nghiệp cung cấp thành tiêu chí chất lượng dịch vụ, hay nói cách khác là nhà cung cấp dịch vụ đã truyền đạt sai hoặc không truyền đạt được sự kỳ vọng của khách hàng thành quy trình, quy cách chất lượng dịch vụ. - Khoảng cách 3: khoảng chênh lệch giữa sự hành động của doanh nghiệp cung cấp thành tiêu chí chất lượng dịch vụ và sự chuyển giao dịch vụ đó cho khách hàng, tức là nhân viên truyền đạt không đúng quy trình chất lượng đã định.
- Khoảng cách 4: khoảng chênh lệch giữa sự chuyển giao dịch vụ và sự thông tin đến khách hàng, điều đó có nghĩa là sự quảng cáo và giới thiệu dịch vụ đến khách hàng bị sai. - Khoảng cách 5 = khoảng cách 1 + khoảng cách 2 + khoảng cách 3 + khoảng cách 4 3.2 Mô hình SERVQUAL của Parasurama, Zeithaml và Berry (1988) Năm 1988, Parasurama và cộng sự đã phân chia 22 thuộc tính vào 5 tiêu thức cấu thành chất lượng dịch vụ, từ đó làm cơ sở cho việc xây dựng các công cụ thu thập thông tin từ phía khách hàng. Mỗi tiêu thức được sử dụng hai lần: lần đầu tiên để xác định kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ mà họ mong muốn, và lần thứ hai để đo lường nhận thức của khách hàng về mức độ thực hiện sản phẩm dịch vụ mà nhà cung cấp đã hứa hẹn. Từ 13 đó, nhà nghiên cứu sẽ xác định được những khoảng cách giữa kỳ vọng và hiện thực – đó chính là chất lượng dịch vụ được đánh giá bởi khách hàng.
Chất lƣợng hữu hình Độ tin cậy Khả năng đáp ứng Chất lƣợng Sự đảm bảo dịch vụ Sự đồng cảm - Chất lượng hữu hình: trang phục, ngoại hình của nhân viên, trang thiết bị phục vụ, phương tiện vật chất cho dịch vụ.