CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CĂNG THẲNG NGUỒN NƯỚC VÀ GIỚI THIỆU VỀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1.1 Các nghiên cứu về căng thẳng nguồn nước trên thế giới 1.1 Một số khái niệm và định nghĩa Tài nguyên nước bao gồm nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển. Nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên và nhân tạo. Các dạng tích tụ nước tự nhiên bao gồm sông, suối, kênh, mương, rạch, hồ, ao, đầm, phá, các tầng chứa nước dưới đất và các dạng tích tụ nước khác được hình thành tự nhiên. Các dạng tích tụ nước nhân tạo bao gồm hồ chứa thủy điện, thủy lợi, sông, kênh, mương, rạch, hồ, ao, đầm và các dạng tích tụ nước khác do con người tạo ra.
Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền, hải đảo. Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới đất ở đất liền, hải đảo, dưới đáy biển (Luật Tài nguyên nước 2023 [6]). Nghiên cứu này sẽ chỉ giới hạn tài nguyên nước mặt. Cạn kiệt nguồn nước là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng nước, làm cho nguồn nước không còn khả năng khai thác, sử dụng [6].
An ninh nguồn nước (water security): Hiện nay, cùng sử dụng thuật ngữ “an ninh nguồn nước” nhưng các tổ chức quốc tế, các quốc gia có những cách tiếp cận, định nghĩa khác nhau như Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO), Ủy ban nước của Liên hợp quốc (UN-Water), Đối tác Nước toàn cầu (Global Water Partnership), Ngân hàng Thế giới (World Bank), … Tuy nhiên, định nghĩa về an ninh nguồn nước (ANNN) trong luận án được hiểu theo Luật Tài nguyên nước năm 2023 [6] như sau: An ninh nguồn nước là việc bảo đảm số lượng, chất lượng nước phục vụ dân sinh trong mọi tình huống, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường và giảm thiểu rủi ro, tác hại từ các thảm họa do con người và thiên nhiên gây ra liên quan đến nước [6]. Có thể thấy ANNN là một khái niệm rất rộng gồm hầu hết các khía cạnh của lĩnh vực TNN. Tuy nhiên trong thực tế ANNN cho các vùng, quốc gia hay lưu vực sông chỉ liên quan đến một hoặc vài thành phần bức thiết và cần được giải quyết gọn gàng để đảm bảo đáp ứng nhu cầu dùng nước. Cụ thể hiện nay đối với thành phố Đà Nẵng vấn đề bức thiết nhất là việc chưa đảm bảo cung cấp đủ nước sạch sinh hoạt cho đời sống người dân và phát triển KTXH, gây nên tình trạng căng thẳng trong vấn đề đáp ứng nhu cầu sử dụng nước.
7 Hạn hán: Hạn hán là một loại thiên tai phổ biến trên thế giới, gây ra nhiều thiệt hại về kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống con người và môi trường sinh thái, nhất là ở những quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp như Việt Nam. Tùy theo từng lĩnh vực cụ thể mà hạn hán được hiểu theo những cách khác nhau. Theo [7] thì hạn hán là hiện tượng thiếu nước trong một thời gian dài do không có mưa và cạn kiệt nguồn nước. Hoặc theo [8] hạn hán là tình trạng thiếu mưa kéo dài hoặc thiếu hụt lượng mưa rõ rệt, có thể được mô tả là một giai đoạn thời tiết khô bất thường với lượng mưa thiếu kéo dài đủ để gây ra sự mất cân bằng thủy văn nghiêm trọng hay nói cách khác, hạn hán là một hiện tượng khí hậu có thể xảy ra ở hầu hết mọi nơi trên thế giới khi lượng nước sẵn có (khí quyển, bề mặt, đất hoặc nước ngầm) giảm đáng kể trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) hạn hán được chia làm 4 loại: hạn khí tượng, hạn thủy văn, hạn nông nghiệp và hạn kinh tế - xã hội. Trên thực tế hạn hán xảy ra không chỉ theo một loại đơn độc như hạn khí tượng, hạn thủy văn hay hạn kinh tế - xã hội mà là sự kết hợp giữa các loại hạn với nhau. Vì vậy, trong luận án khái niệm hạn hán được xác định theo [7]. Với cách tiếp cận này mức độ cạn kiệt nguồn nước được biểu thị thông qua sự suy giảm mực nước hoặc lưu lượng tại các trạm quan trắc và hạn hán được hiểu là sự tổ hợp của hạn thủy văn và hạn kinh tế xã hội.
Khan hiếm nước (water scarcity): Khan hiếm nước (KHN) là một vấn đề ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên thế giới và hiện có khá nhiều định nghĩa và khái niệm về KHN. Theo UN-Water [9], KHN là điểm mà tại đó tác động tổng hợp của tất cả người dùng ảnh hưởng đến việc cung cấp hoặc chất lượng nước theo các thỏa thuận thể chế hiện hành trong chừng mực mà nhu cầu của tất cả các lĩnh vực, bao gồm cả môi trường không thể được đáp ứng đầy đủ. FAO (2012) [10] có chung cách tiếp cận khi thừa nhận rằng KHN có thể xảy ra ở bất kỳ mức độ cung và cầu nào rằng nó có nhiều nguyên nhân khác nhau và nó có khả năng được khắc phục hoặc giảm bớt cho một số mức độ. Theo đó, KHN được định nghĩa là sự mất cân bằng giữa cung và nhu cầu sử dụng nước ngọt trong một khu vực cụ thể (quốc gia, khu vực, lưu vực sông) do tỷ lệ nhu cầu cao hơn so với nguồn cung sẵn có, theo các quy định thể chế hiện hành (bao gồm cả giá cả) và điều kiện cơ sở hạ tầng.
KHN báo hiệu bởi nhu cầu không được thỏa mãn, căng thẳng giữa những người sử dụng, cạnh tranh về nước, khai thác nước ngầm quá mức và không đảm bảo được dòng chảy môi trường. 8 Theo UN Glolal Compact - The CEO Water Mandate [11] định nghĩa ngắn gọn KHN là sự dồi dào hoặc thiếu hụt nguồn tài nguyên nước ngọt, nó là hàm số của lượng nước tiêu thụ của con người so với lượng tài nguyên nước ở một khu vực nhất định. Như vậy, một khu vực khô cằn có rất ít nước nhưng con người không tiêu thụ nước sẽ không bị coi là “khan hiếm” mà là “khô cằn”. Sự KHN là một thực tế vật lý, khách quan có thể được đo lường một cách nhất quán giữa các khu vực và theo thời gian.
KHN đề cập đến tình trạng thiếu nước tạm thời, đột ngột do sự gián đoạn cụ thể trong hệ thống cấp nước, nó thường gay gắt và tức thời hơn sự CTN. Vì vậy, trong luận án khái niệm HKN được hiểu theo [11]. Căng thẳng nguồn nước (water stress): Căng thẳng nguồn nước (CTN) đề cập đến khả năng hoặc sự thiếu hụt khả năng đáp ứng nhu cầu nước ngọt của con người và sinh thái. So với tình trạng khan hiếm, CTN là một khái niệm bao hàm và rộng hơn.
Nó xem xét một số khía cạnh vật lý liên quan đến TNN bao gồm sự sẵn có của nguồn nước; chất lượng nước; khả năng tiếp cận nguồn nước nghĩa là liệu người dân có thể sử dụng nguồn cung cấp nước sẵn có hay không và dòng chảy môi trường [11]. Sự CTN phát triển dần dần theo thời gian khi nhu cầu vượt quá nguồn cung trong một khu vực, nó xuất phát từ các yếu tố mang tính hệ thống và đòi hỏi các giải pháp lâu dài về công tác quản lý nước và cơ sở hạ tầng tốt hơn. Theo [12] CTN là một định nghĩa toàn diện và sâu rộng hơn mà sự khan hiếm nước được coi là một phần của nó, cùng với lượng nước sẵn có về chất lượng và số lượng. Căng thẳng về nước được coi là khả năng đáp ứng nhu cầu về nước của con người, trong khi khan hiếm nước đề cập đến tỷ lệ nước được sử dụng so với lượng nước sẵn có để sử dụng trong khu vực và theo thời gian, tình trạng khan hiếm nước được đo bằng số lượng vật lý (khối lượng).
Ví dụ: Nếu một khu vực nào đó có trữ lượng nước bị ô nhiễm cao, điều đó có nghĩa là khu vực đó không gặp phải tình trạng KHN nhưng phải chịu áp lực rất lớn về nước vì Hình 1.1 KHN là một phần của lượng nước phần lớn không thể sử dụng được. khái niệm CTN [12] Cùng cách tiếp cận phân biệt giữa KHN và CTN, chuyên gia về nước người Thụy Điển Falkenmark đã phát triển một trong những chỉ số được sử dụng rộng rãi nhất để đo lường căng thẳng về nước [13], chỉ số này dựa trên thước đo lượng nước sẵn có trên đầu người 9 mỗi năm trong quốc gia hoặc khu vực. Để xác định mức độ CTN, các cấp độ cung ứng nước được trình bày trong Bảng 1.1 đã được phát triển. Qua đó cho thấy với mức 1.700 m3/người/năm được sử dụng làm ngưỡng để xác định sự căng thẳng về nước và ngưỡng 1.000 m3/người/năm được xem là KHN.1 Các ngưỡng của chỉ số Falkenmark [13] Chỉ số (m3/người/năm) Tình trạng >1.700 Không căng thẳng 1.700 Căng thẳng nguồn nước 500 ÷ 1.000 Khan hiếm nước <500 Khan hiếm nước tuyệt đối CTN chịu sự tác động tổng hợp từ khía cạnh vật lý và cả điều kiện về KTXH khác nhau.
Bốn khía cạnh chính của tình trạng CTN thường được tính đến bao gồm: (i) Nhu cầu nước vượt quá lượng nước sẵn có; (ii) Chất lượng nước kém hạn chế việc sử dụng nước; (iii) Khó thỏa mãn dòng chảy môi trường và iv) Khả năng tiếp cận các dịch vụ nước của người sử dụng chưa đảm bảo. Cách tiếp cận về CTN như trên được chọn làm cách tiếp cận của luận án, nó phù hợp với việc đánh giá mức độ CTN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nơi mà mặc dù có lượng nước đến rất dồi dào nhưng việc đáp ứng nguồn nước cho hoạt động dân sinh và phát triển KTXH đôi lúc đôi nơi vẫn chưa đảm bảo. Chỉ số căng thẳng nguồn nước_WSI (Water Stress Index): Hiện nay có nhiều tài liệu định nghĩa về chỉ số trong đó nghiên cứu về bộ tiêu chí và cơ sở dữ liệu giám sát phát triển bền vững ở Việt Nam (2006) của Bộ Kế hoạch và Đầu tư và đã đưa ra định nghĩa: Chỉ số là một độ đo tổng hợp ở mức cao, được tính từ các chỉ tiêu và bộ chỉ tiêu. Như vậy, chỉ số WSI là một thước đo mức độ CTN tổng hợp trong một vùng, một LVS nó thể hiện mối quan hệ giữa nhu cầu về nước và khả năng sẵn có của nguồn nước, khả năng tiếp cận nguồn nước trong điều kiện môi trường sinh thái được đảm bảo.2 Tổng quan nghiên cứu về căng thẳng nguồn nước trên thế giới 1.