CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN 1. Cán bộ, công chức tại UBND huyện 1. Khái niệm cán bộ, công chức - Khái niệm cán bộ Tại Việt Nam, thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng ngày càng phổ biến hơn trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
Xuất phát từ yêu cầu cách mạng, cán bộ được hiểu là những người có lòng yêu nước, có khả năng làm chính trị, biết vận động, tuyên truyền, giáo dục và lãnh đạo tổ chức, nhân dân tham gia làm cách mạng giành chính quyền. Tuy nhiên chưa có một văn bản chính thức nào giải thích rõ “cán bộ” là gì. Sau này, thuật ngữ “cán bộ” tiếp tục được sử dụng rộng rãi hơn, bao gồm những người hoạt động chuyên nghiệp hưởng lương từ ngân sách nhà nước và những người hoạt động không chuyên nghiệp, hưởng phụ cấp trách nhiệm hoặc tự nguyện làm việc không hưởng lương. Thuật ngữ cán bộ thường được gắn với những hình thức tổ chức, những lĩnh vực hoạt động khác nhau trong xã hội như: cán bộ - đảng viên (người lãnh đạo các đảng viên - cấp uỷ viên) trong một tổ chức đảng; cán bộ - công nhân viên (người làm công, công nhân).
Để xác định đối tượng nào là “cán bộ”, khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2018 đã định nghĩa cụ thể: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, ở tỉnh, TP trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, TP thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. 10 Với quy định trên thì tiêu chí xác định cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ và tiêu chí biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo đó, cán bộ tại UBND huyện gồm: - Chủ tịch UBND huyện; - Phó Chủ tịch UBND huyện. - Khái niệm công chức Thuật ngữ công chức được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc trên thế giới, nhìn chung để chỉ những người thực hiện công vụ trong các cơ quan, tổ chức nhà nước.
Tuy nhiên tùy theo đặc điểm về thể chế chính trị, điều kiện về văn hóa, xã hội, lịch sử, khái niệm công chức có thể được hiểu theo các cách khác nhau. Tại Việt Nam, khái niệm “công chức” được ghi nhận chính thức vào năm 1950 bằng Sắc lệnh 76/SL của Chủ tịch nước Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 20 tháng 5 năm 1950. Điều 1, sắc lệnh 76/SL quy định: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong nước hay ở nước ngoài đều là công chức theo quy chế này, trừ trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Trải qua nhiều diễn biến phát triển của đất nước, khái niệm “công chức” cũng được thay đổi cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng thời kỳ khác nhau.
Và gần đây nhất, tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 8 đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 và Luật Viên chức số 58/2010/QH12. Theo đó, khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được sửa đổi như sau: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Khái niệm cán bộ, công chức của UBND huyện - Khái niệm cán bộ của UBND huyện Căn cứ vào quy định tại Điều 4, Luật Cán bộ công chức 2008, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Cán bộ công chức và Luật viên chức 2010, tiêu chí xác định cán bộ thuộc UBND huyện sẽ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ và tiêu chí biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Vì vậy, cán bộ thuộc UBND huyện sẽ bao gồm: Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện.
- Khái niệm công chức của UBND huyện Theo Khoản 2, Điều 6, Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 quy định những người là công chức, công chức cấp huyện gồm các đội tượng sau: Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và người làm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân; Người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Đánh giá cán bộ, công chức 1. Khái niệm đánh giá cán bộ, công chức Đánh giá CBCC là một nội dung quan trọng trong quản lý nhân sự hành chính nhà nước. Đánh giá CBCC bao gồm đánh giá bản thân người đó và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của họ.
Đánh giá bản thân gồm các yếu tố liên quan đến phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong, lề lồi làm việc,. Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ sẽ liên quan đến các yếu tố về đánh giá hiệu quả làm việc, kỹ năng làm việc, kết quả thực hiện nhiệm vụ (sản phẩm đầu ra) so với mục tiêu, kế hoạch đã đề ra. 12 Trong đánh giá CBCC có ba yếu tố quan trọng nhất là chủ thể, tiêu chí và phương pháp đánh giá. Chủ thể đánh giá CBCC là cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện.
Các tiêu chí đánh giá thể hiện là các tiêu chuẩn, dấu hiệu phản ánh phẩm chất nhất định, kết quả công việc của CBCC phù hợp với mục tiêu đánh giá hướng tới. Các phương pháp đánh giá thể hiẹn là các cách thức được cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền sử dụng để xác định đúng đắn phẩm chất, kết quả thực hiện nhiệm vụ của CBCC. Từ những phân tích trên, có thể hiểu một cách tổng quát rằng: “Đánh giá CBCC là quá trình đánh giá con người làm việc trong bộ máy nhà nước do người hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành nhằm xem xét một cách có hệ thống những điểm tích cực và hạn chế về bản thân người được đánh giá và việc thực hiện chức trách nhiệm vụ được giao của họ để thực hiện những mục tiêu nhất định” 1. Mục đích của đánh giá cán bộ, công chức Điều 27, Luật Cán bộ công chức 2008 quy định “Mục đích đánh giá cán bộ để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Điều 55, Luật Cán bộ công chức 2008 quy định “Mục đích đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức. Như vậy có thể thấy rằng, mục đích của việc đánh giá CBCC hướng tới hai mục tiêu cơ bản gồm: Thứ nhất, đối với bản thân CBCC Thông qua công tác đánh giá, CBCC nhận thức rõ được năng lực, trình độ của bản thân trong quá trình thực thi công vụ để từ đó biết được điểm mạnh, điểm yếu, rút ra kinh nghiệm và có biện pháp khắc phục tồn tại, hạn chế, phấn đấu hoàn thành 13 tốt các nhiệm vụ được giao, Đồng thời, việc được cấp có thẩm quyền đánh giá đúng, trúng, khách quan, công bằng sẽ giúp CBCC có thêm động lực trong quá trình làm việc của mình.
Thứ hai, đối với cá nhân, cơ quan có thẩm quyền đánh giá Việc đánh giá sẽ giúp nhà lãnh đạo, quản lý biết được phẩm chất, năng lực, trình độ của cấp dưới để từ đó phân công, bố trí, sử dụng họ một cách hợp lý. Ngoài ra, thông qua hoạt động đánh giá, người đứng đầu có thể nhận thấy những điểm hợp lý, chưa hợp lý trong công tác tổ chức để có điều chỉnh phù hợp. Nội dung, tiêu chí, nguyên tắc và phương pháp đánh giá cán bộ, công chức 1. Nội dung đánh giá cán bộ, công chức Về cơ bản, nội dung đánh giá CBCC sẽ bao gồm các tiêu chí liên quan đến chính trị tư tưởng; đạo đức, lối sống; tác phong, lề lối làm việc; ý thức tổ chức kỷ luật; kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên căn cứ vào nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí công tác của cán bộ hoặc công chức, ngoài những nội dung đánh giá chung trên tùy từng đối tượng sẽ có tiêu chí đánh giá khác nhau. Cụ thể như sau: - Đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: + Việc quán triệt, thể chế hóa và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; + Việc duy trì kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; + Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát, giải quyết khiếu nai, tố cáo theo thẩm quyền. - Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý + Kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao; khối lượng, tiến độ, chất lượng thực hiện nhiệm vụ; 14 + Thái độ phục vụ nhân dân, doanh nghiệp đối với những vị trí tiếp xúc trực tiếp hoặc giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp [Điều 3, Nghị định 90/2020/NĐ-CP]. Có thể thấy rằng, các tiêu chí đánh giá CBCC theo pháp luật hiện hành thể hiện rõ trên hai phương diện là đánh giá năng lực CBCC và đánh giá đạo đức của CBCC.