Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU Tình hình SVNLXH diễn ra ở các nước trên thế giới trong thời gian gần đây làm cho các chuyên gia trong lĩnh vực bảo tồn ĐDSH đi đến kết luận: “ Sự lan rộng của SVNLXH đang tạo những thách thức to lớn lâu dài và phức tạp đe dọa đến ĐDSH tự nhiên của Trái Đất và sự thịnh vượng chung của loài người” [17]. Hiện trạng và công tác quản lý các loài cá ngoại lai trên thế giới 1. Hiện trạng các loài cá ngoại lai trên thế giới Từ lâu công tác nhập nội các loài cá ngoại lai đã được thực hiện.Từ thời La mã, cá chép trên sông Danube đã được nhập vào nuôi ở Ý và Hy lạp. Sau một thời gian sinh sống, loài cá này đã trở thành đối tượng nuôi chính.
Tuy nhiên phải đến gần đây (từ thế kỉ XX đến nay) công tác nhập nội loài cá ngoại lai vào nuôi mới trở nên phổ biến [9]. Tính đến nay trên thế giới đã có hơn 610 loài cá được di nhập và riêng các nước ASEAN là 79 loài [43]. Hiện nay, các loài cá ngoại lai được nhập nội theo 2 xu hướng là: các nước đang phát triển nhập các loài cá ngoại lai làm thực phẩm hàng hóa, còn các nước phát triển thường nhập với mục đích làm cảnh, vui chơi giải trí, nghiên cứu khoa học hoặc với mục đích khác: Sản xuất lương thực- thực phẩm: Nhiều quốc gia có tiềm năng về nuôi trồng thủy sản đã di nhập các giống loài cá để phục vụ nhu cầu thực phẩm của người dân và phục vụ sự phát triển kinh tế của đất nước. Đã có rất nhiều loài trở thành loài được người dân nuôi như loài bản địa và được được phát tán ngoài thủy vực tự nhiên, và việc di nhập các đối tượng thủy sản cũng góp phần không nhỏ vào việc cải thiện đời sống cho dân nghèo.
Ví dụ nhập cá rô phi từ Phi Châu vào các nước Đông Nam Á, Nam và Trung Mỹ. Cá chép nhập vào nuôi ở Madagasca. Những loài cá đó đến nay đã trở thành các loài cá sống tự nhiên ở đây vì chúng thích nghi nhanh với điều kiện nơi ở mới, sinh sản được ở thuỷ vực tự nhiên [9]. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Philippines, cá rô phi đen đóng một vai trò quan trọng trong khai thác thủy sản nội địa.
Theo Baluyut, đất nước Philippines có khoảng 230.000 ha ao và hồ chứa, đặc biệt cá rô phi đen được tìm thấy trong hầu như tất cả trong số ao hồ này. Theo thống kê vào cuối năm 1990, cá rô phi chiếm khoảng 25 phần trăm tổng sản lượng cá của vùng [27]. Hiện nay, cá rô phi đen là loài được nuôi làm thực phẩm chính ở Philippines và chiếm khoảng 31 000 tấn [FAO FishStat]. Ở Thái Lan, tổ chức FAO đã thống kê và xác định có 17 loài cá ngoại lai xâm hại, trong đó có 5 loài đã thành lập đực quần thể ngoài tự nhiên.
Theo Chavalit Vidthayanon, người dân Thái Lan tiêu thụ 28, 8 kg cá bình quân đầu người, trong đó 41, 6% là các loài ngoại lai [28]. Campuchia là đất nước có nguồn lợi thủy sản năng suất nhất thế giới. Năm 1997, chương trình Thủy sản của Ủy hội sông Mekong (MRC) đã đánh giá kiến thức địa phương trong lưu vực sông Mekong đã thống kê và cho biết, có 15 loài cái ngoại lai đã xuất hiện phổ biến trên lưu vực sông Mekong chảy qua Campuchia. Trong 15 loài cá ngoại lai, cá chép Ấn Độ và cá rô phi đen xuất hiện rất nhiều, trở thành 1 trong những thực phẩm hàng ngày của người dân [33].
Vui chơi giải trí và làm cảnh Đời sống kinh tế được nâng cao đồng thời nhu cầu vui chơi giải trí cũng được cải thiện đáng kể, trong đó có nhu cầu nuôi các loài thủy sinh làm cảnh và phục vụ các trung tâm giải trí. Việc di nhập các loài cá để nuôi làm cảnh đã trở nên rất phổ biến trên toàn thế giới. Ngày càng nhiều các loài cá nói riệng và các loài thủy sinh nói chung được nuôi thuần hóa và lai tạo với nhiều kiểu dáng và màu sắc hấp dẫn. VD: cá hoàng đế, cá cọ bể… [18].
Kiểm soát sinh học: Ngoài các mục đích trên, nhập nội các cá ngoại lai còn để kiểm soát sinh học, ví dụ nhập cá ăn bọ gậy (Gambusia affinis) để khống chế bệnh sốt rét. Nhập cá trắm cỏ để trừ các loài rong, cỏ nước vì thức ăn của nó là cỏ. Nhập một số loài để 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chúng ăn trai ốc ở đáy sông vì trai ốc mang ký sinh trùng sán lá nên có thể là tác nhân gây bệnh cho loài mới nhập và các đối tượng khác [18]. Năm 1967, ba loài mới của loài cá chép Trung Quốc đã được đưa vào đất nước Myanmar với mục tiêu khác nhau, ví dụ như để diệt trừ cỏ dại thủy sản và để ngăn chặn sự nở sinh vật phù du trong ao cá.
Vai trò của các loài cá này là để duy trì môi trường ao nuôi, giá trị thị trường của cá là khá thấp do hương vị kém hơn so với người tiêu dùng [36]. Ở các loài cá việc tạo con lai có khả năng sinh sản cao hơn các loài động vật có vú và các loài chim. Điều này làm cho nguy cơ gây tạp giao, mất ĐDSH do cá nhập nội xảy ra rất cao [9]. Hiện tượng tạp giao khá phổ biến ở các loài cá đặc biệt là nhóm cá rô phi ở Châu Phi và Nam Mỹ.
Chúng tạo ra các con lai có khả năng sinh sản, do vậy hình thành các kiểu di truyền mới. Các loài có quan hệ gần gũi thì khả năng gây lai tạp càng cao. Theo Welcome (1984) cho biết, ở hồ Itasy thuộc Madagascar, hai quần thể đàn cá rô phi Oreochromis niloticus và Oreochromis macrochir chúng đã lai tạp với nhau. Kết quả là loài Oreochromis macrochir bị mất, chỉ còn lại loài Oreochromis niloticus và con lai [37].
Công tác quản lý các loài cá ngoại lai trên thế giới Sự phát tán sinh vật ngoại lai xâm lấn đang tạo nên sự phức tạp và thách thức lớn là đe dọa đến ĐDSH và đời sống con người. Do vậy, nhiều tổ chức quốc tế đã đưa ra các công ước, các nghị định, các công rình nghiên cứu về các SVNLXH Công ước ĐDSH là một hiệp ước khung được thông qua tại Hội Nghị thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển bền vững năm 1992 tại Rio de Janero (Brazin), có hiệu lực từ ngày 29/12/1993. Tính đến tháng 5 năm 2009 đã có 191 quốc gia là thành viên của Công ước này. Trong điều 8 của công ước ĐDSH có nêu rõ “Ngăn ngừa việc đưa vào lưu hành, kiểm soát hoặc tiêu diệt các loài lạ đe dọa tới các hệ sinh thái, môi trường sống tự nhiên hoặc các loài” [23, 42].
Theo khuyến cáo của Công ước đa dạng sinh học, các nước nhập nội các loài mới từ nước ngoài vào (thậm chí từ vùng này sang vùng khác ở một nước) cần phải đánh giá được tác động lên ĐDSH và nghề nuôi cá truyền thống của địa phương để có các biện pháp phát 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com triển bền vững, đồng thời để quản lý phòng ngừa nhằm hạn chế thiệt hại, có giải pháp tổ chức và thực hiện việc loại trừ loài xâm hại theo một quy trình quản lý mang tính chiến lược thích hợp… [23, 42]. FAO- Tổ chức lương thực và nông nghiệp liên hợp quốc cũng có chương trình kiểm kê đánh giá hậu quả môi trường đối với các loài thủy sinh vật nhập nội trong sự phát triển nuôi trồng thủy sản [43]. Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên thế giới (IUCN) đã đưa ra danh sách 100 loài sinh vật ngoại lai xâm lấn gây hại cho các loài bản địa, ảnh hưởng xấu đến môi trường và làm thiệt hại đến nền kinh tế [25]. Do vậy IUCN đã đưa ra khuyến cáo các nước cần ngăn cấm hoặc có các hình thức bảo vệ.
Trong số 100 loài này có nhiều loài đang sinh sống ở Việt Nam [7]. Các nước khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau về mức độ tác động đến kinh tế và môi trường tùy theo số lượng SVNLXH đã xác lập được quần thể ngoài tự nhiên. Các nước có ĐDSH ở mức cao đều đã điều tra, đánh giá tác động của các loài cá nhập nội ảnh hưởng đến ĐDSH và nghề nuôi truyền thống một cách đầy đủ và toàn diện, đồng thời có sự cập nhật thường xuyên các số liệu. Khu vực Châu Úc – Thái Bình Dương: Do sinh vật ngoại lai xâm lấn đã làm tuyệt chủng một số loài sinh vật bản địa, do đó khu vực này đã đề xuất các giải pháp khẩn cấp bao gồm việc loại bỏ và kiểm soát các loài ngoại lai nhằm chống sự tuyệt chủng của các loài bản địa.
Biện pháp tổng hợp bao gồm việc ngăn chặn, phát hiện sớm, phản hồi nhanh, loại bỏ, kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại và phục hồi môi trường. Biện pháp ngăn chặn là ưu tiên đầu tiên. Ngoài ra các quốc gia còn ưu tiên thực hiện chiến lược quốc gia về sinh vật ngoại lai như thành lập Uỷ ban quốc gia về sinh vật ngoại lai, thực hiện các kế hoạch truyền thông, giáo dục để nâng cao hiểu biết của người dân… Hiện nay, khu vực này có hai hiệp ước đặc biệt để quản lý sinh vật ngoại lai, đó là: “Công ước về Bảo tồn thiên nhiên ở Nam Thái Bình Dương” [20]. và “Nghị định thư về bảo tồn và quản lý các khu vực ven bờ và bảo vệ thủy sinh của khu vực Đông Nam Thái Bình Dương” [22, 47].
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khu vực châu Mỹ: Các nước châu Mỹ đã thực hiện kế hoạch hợp tác về quản lý sinh vật ngoại lai, trong đó công việc ưu tiên hàng đầu là tăng cường năng lực về quản lý sinh vật ngoại lai cho các cấp chính quyền và cộng đồng. Nước Mỹ đã thành lập Hội đồng quốc gia về sinh vật ngoại lai xâm lấn và ban hành các luật diệt trừ các loài ngoại lai xâm lấn. Khu vực châu Âu: Để ngăn ngừa sự xâm lấn của các sinh vật ngoại lai, các nước châu Âu đã nỗ lực xây dựng chiến lược quản lý SVNLXH dựa theo nội dung công ước Bern (Công ước bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và động vật, thực vật hoang dã châu Âu) [39]. Với chiến lược quản lý SVNLXH thường ưu tiên ngăn chặn là chính.