Tổng quan nghiên cứu

Hiện tượng bồi lắng lòng hồ là một thách thức kỹ thuật và môi trường mang tính toàn cầu. Theo các thống kê thủy văn quốc tế, hiện có khoảng 40.000 hồ chứa lớn trên thế giới chịu tác động của bồi lắng, làm suy giảm từ 0,5% đến 1% tổng dung tích lưu trữ mỗi năm. Tại Việt Nam, hệ thống sông Srêpôk thuộc lưu vực sông Mê Kông sở hữu tổng diện tích lưu vực lên tới 29.450 km2 với chiều dài dòng chính 640 km và độ dốc lòng sông trung bình 3,2 phần nghìn. Đây là một trong những hệ thống sông có cường độ vận chuyển bùn cát lớn và mạng lưới bậc thang thủy điện dày đặc bậc nhất vùng Tây Nguyên.

Công trình Thủy điện Srêpôk 3 được xây dựng tại khu vực giáp ranh giữa tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông, quản lý diện tích lưu vực tính đến tuyến đập là 9.410 km2. Hồ chứa có dung tích toàn bộ 218,99 triệu m3, dung tích hữu ích 62,85 triệu m3 và công suất lắp máy 220 MW, chính thức phát điện thương mại từ tháng 5 năm 2010. Sau nhiều năm vận hành trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa phân hóa sâu sắc, lượng bùn cát bồi tích từ thượng nguồn đổ về lòng hồ ngày càng gia tăng, trực tiếp đe dọa dung tích phòng lũ, làm suy giảm hiệu suất phát điện và gây xáo trộn chế độ dòng chảy hạ du.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng bồi lắng hồ chứa Thủy điện Srêpôk 3 sau 7 năm vận hành thực tế giai đoạn 2010 – 2017, đồng thời ứng dụng mô hình toán chuyên sâu để mô phỏng diễn biến bồi xói và dự báo dung tích bồi lắng trong thời đoạn 50 năm khai thác tiếp theo. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng chính xác để chủ hồ và cơ quan quản lý điều chỉnh quy trình vận hành liên hồ chứa, bảo vệ tuổi thọ công trình và chủ động thích ứng với các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu trên lưu vực sông Srêpôk.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thủy lực sông ngòi và động lực học dòng chảy mang bùn cát trong lòng dẫn hở. Hai quy luật vật lý cơ bản chi phối toàn bộ quá trình tính toán là phương trình bảo toàn năng lượng một chiều của dòng không ổn định biến đổi dần và phương trình liên tục bùn cát Exner. Phương trình năng lượng được giải thông qua phương pháp bước chuẩn nhằm xác định các yếu tố thủy lực then chốt như mực nước, lưu tốc trung bình, độ sâu hiệu dụng và độ dốc đường năng tại từng vị trí mặt cắt.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm chuyên ngành nền tảng gồm dung tích chết với thiết kế ban đầu 156,13 triệu m3, dung tích hữu ích 62,85 triệu m3, hiệu quả bẫy bùn cát của hồ chứa, sự phân tầng vận chuyển giữa bùn cát lơ lửng và bùn cát di đẩy đáy, cùng lý thuyết trao đổi bùn cát giữa lớp đáy động và lớp đáy tĩnh không xói. Khung mô phỏng số học tích hợp 11 hàm quan hệ sức tải bùn cát tiêu chuẩn, cho phép tái hiện chân thực quá trình bồi tụ trầm tích và thô hóa lòng dẫn theo cả thời gian và không gian.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào của đề tài bao gồm chuỗi số liệu quan trắc thủy văn và bùn cát thực đo tại trạm Cầu 14 trong 86 tháng liên tục từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 7 năm 2017, với lưu lượng nước bình quân nhiều năm đạt 250 m3/s và lưu lượng đỉnh lũ thiết kế 8.760 m3/s. Dữ liệu địa hình sử dụng hệ thống mặt cắt ngang lòng sông và lòng hồ được đo đạc chi tiết ở tỷ lệ 1:5000 kết hợp bản đồ số độ cao DEM toàn lưu vực.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác lập thông qua mạng lưới 15 mặt cắt ngang đại diện, được bố trí dọc theo trục dòng chính của lòng hồ Srêpôk 3 từ khu vực đuôi hồ tiếp giáp hạ lưu thủy điện Hòa Phú đến tuyến đập chính dài 460 m. Phương pháp chọn mẫu mặt cắt dựa trên đặc trưng hình thái uốn khúc, độ dốc đáy sông và các điểm giao cắt thủy lực xung yếu.

Lý do lựa chọn mô hình thủy lực HEC-6 phiên bản một chiều là vì lòng hồ Thủy điện Srêpôk 3 có dạng lòng sông miền núi điển hình với chiều dài lớn hơn rất nhiều so với chiều rộng mặt nước. Quá trình biến đổi thủy lực và vận chuyển bùn cát diễn ra mạnh mẽ nhất theo phương dọc trục dòng chảy. Mô hình HEC-6 cho phép phân chia mặt cắt thành lòng chính và các bãi tràn bên bờ, xử lý xuất sắc các bài toán cân bằng bùn cát dài hạn lên đến 50 năm mà vẫn đảm bảo tính ổn định hội tụ và tiết kiệm chi phí tính toán hơn so với các mô hình hai chiều phức tạp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Sau 7 năm vận hành thực tế từ năm 2010 đến 2017, tổng khối lượng bùn cát lắng đọng trong lòng hồ Thủy điện Srêpôk 3 đã chiếm khoảng 2,8% tổng dung tích chết thiết kế ban đầu. Quá trình bồi lắng diễn ra không đồng đều giữa các khu vực, tập trung đậm đặc tại vùng cửa vào lòng hồ và đoạn giữa hồ. Tại mặt cắt số 4 và mặt cắt số 9, cao trình đáy sông đã bị nâng cao trung bình từ 0,65 m đến 1,42 m so với thời điểm tích nước năm 2010, tạo nên các doi cát ngầm làm biến dạng hình học lòng dẫn tự nhiên.

Kết quả mô phỏng dự báo sau 50 năm khai thác công trình cho thấy xu thế bồi lắng tích lũy gia tăng rõ rệt. Khối lượng phù sa bồi lấp lấn sâu vào khu vực dung tích hữu ích, làm suy giảm ước tính khoảng 19,4% dung tích hữu ích của hồ chứa nếu giữ nguyên quy trình xả lũ hiện hành. Tại mặt cắt số 15 gần tuyến công trình đầu mối, cao trình đáy bùn cát có xu hướng dâng cao thêm từ 2,8 m đến 3,6 m, thu hẹp đáng kể khoảng cách an toàn đến cao trình ngưỡng cửa lấy nước phát điện ở mức 244 m.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét dữ liệu qua đồ thị quan hệ mực nước và dung tích hồ V = f(H), đường cong dung tích thực đo sau 7 năm đã dịch chuyển tịnh tiến sang trái so với đường cong thiết kế ban đầu. Biểu đồ mặt cắt dọc lòng hồ qua các mốc thời gian 10 năm, 30 năm và 50 năm mô tả rõ rệt hiện tượng hình thành nêm bùn cát bồi tụ dạng tam giác tại khu vực chuyển tiếp giữa dòng chảy sông và dòng chảy hồ, đặc biệt khi mực nước hồ được duy trì ở mực nước dâng bình thường 272 m.

Nguyên nhân căn bản của hiện tượng này bắt nguồn từ chế độ mưa tập trung của vùng Tây Nguyên, nơi lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm tới 85% đến 90% tổng lượng mưa năm, gây xói mòn bề mặt đất đỏ bazan mạnh mẽ trên diện tích lưu vực 9.410 km2. Khi dòng chảy xiết thượng nguồn mang hàm lượng phù sa cao tiến vào lòng hồ, vận tốc dòng chảy suy giảm đột ngột dưới tác động dềnh nước, làm mất sức tải và khiến hạt cát thô lắng đọng ngay tại vùng thượng lưu hồ.

So sánh với các nghiên cứu tại hồ chứa Thủy điện Hòa Bình và Thủy điện Cửa Đạt, hệ số bẫy bùn cát của hồ Srêpôk 3 trong những năm đầu vận hành đạt trên 85%, sau đó có xu hướng giảm dần khi các hố trũng tự nhiên bị lấp đầy. Kết quả này hoàn toàn tương thích với quy luật bồi lắng hồ chứa dạng sông trên thế giới, khẳng định độ tin cậy cao của phương pháp mô phỏng số học HEC-6.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, điều chỉnh quy trình vận hành xả cát định kỳ qua hệ thống đập tràn gồm 5 cửa van cung kích thước 15 m x 15,5 m. Đơn vị vận hành cần chủ động mở cửa van xả đáy và xả mặt vào các đợt lũ đầu mùa khi lưu lượng dòng chảy về hồ vượt ngưỡng 450 m3/s và mực nước hồ hạ thấp gần mực nước chết 268 m. Giải pháp này giúp cuốn trôi khoảng 15% đến 20% lượng phù sa mịn lơ lửng ra khỏi lòng hồ, thực hiện định kỳ hàng năm bởi Công ty Cổ phần Thủy điện Srêpôk 3.

Thứ hai, triển khai kế hoạch nạo vét cơ giới có kiểm soát tại các khu vực bồi lắng xung yếu, tập trung tại vùng bãi bồi quanh mặt cắt số 9 và vùng cửa nhận nước. Mục tiêu giải phóng khoảng 300.000 m3 bùn cát mỗi chu kỳ 5 năm trong giai đoạn 2020 – 2030, do đơn vị quản lý thủy điện phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk cấp phép và giám sát kỹ thuật.

Thứ ba, tăng cường các giải pháp phi công trình thông qua việc nâng cao độ che phủ rừng phòng hộ đầu nguồn trên toàn bộ lưu vực 9.410 km2 từ mức 70% hiện tại lên trên 75% vào năm 2030. UBND tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông cần kiểm soát chặt chẽ tình trạng chuyển đổi đất rừng sang canh tác cây công nghiệp ngắn ngày trên sườn dốc, giúp giảm thiểu 25% lượng đất xói mòn trôi vào mạng lưới sông suối.

Thứ tư, thiết lập trạm quan trắc bùn cát tự động liên tục kết hợp ứng dụng công nghệ viễn thám và hệ thống thông tin địa lý GIS để đo vẽ định kỳ 3 năm một lần toàn bộ 15 mặt cắt ngang lòng hồ, hoàn thiện cơ sở dữ liệu số phục vụ cập nhật đường cong dung tích theo thời gian thực.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các kỹ sư vận hành và ban giám đốc tại các nhà máy thủy điện thuộc hệ thống bậc thang sông Srêpôk như Buôn Tua Srah, Buôn Kuốp, Srêpôk 3, Srêpôk 4 và Srêpôk 4A. Luận văn cung cấp phương pháp luận thực chứng để tối ưu hóa quy trình điều tiết hồ chứa liên hoàn 220 MW và bảo vệ an toàn công trình đầu mối.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Thủy văn học, Kỹ thuật tài nguyên nước và Xây dựng công trình thủy. Tài liệu là cẩm nang hữu ích về quy trình thiết lập, hiệu chỉnh thông số nhám và kiểm soát sai số cho mô hình thủy lực bùn cát HEC-6 trên sông ngòi Việt Nam.

Nhóm thứ ba là cán bộ quản lý tài nguyên môi trường tại Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh Tây Nguyên. Nghiên cứu mang lại cơ sở khoa học để hoạch định quy hoạch lưu vực sông, kiểm soát xói mòn đất và ban hành chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Nhóm thứ tư là các tổ chức tư vấn thiết kế công trình thủy lợi và năng lượng. Luận văn hỗ trợ số liệu tham khảo thực tế về tốc độ bồi lắng để tính toán dung tích chết chính xác cho các dự án xây dựng hồ chứa mới trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình HEC-6 có ưu điểm nổi bật gì trong việc tính toán bồi lắng hồ thủy điện Srêpôk 3? Mô hình HEC-6 được thiết kế tối ưu cho dòng dẫn một chiều dạng hẹp và dài, tích hợp sẵn 11 công thức tính sức tải bùn cát cho từng cấp hạt. Mô hình cho phép mô phỏng quá trình bồi lắng và xói lở đáy sông dài hạn qua chuỗi thời gian 50 năm với độ ổn định toán học cao, đáp ứng chính xác cấu trúc hình thái của lưu vực 9.410 km2.

Hiện tượng bồi lắng ảnh hưởng trực tiếp đến dung tích hồ chứa Srêpôk 3 như thế nào? Bồi lắng bùn cát làm suy giảm dung tích chết 156,13 triệu m3 và dần lấn sang dung tích hữu ích 62,85 triệu m3. Quá trình này làm nâng cao trình đáy hồ tại các mặt cắt then chốt lên từ 0,65 m đến 1,42 m sau 7 năm, trực tiếp làm giảm khả năng tích trữ nước phục vụ phát điện 220 MW trong mùa khô.

Khu vực nào trong lòng hồ Thủy điện Srêpôk 3 chịu mức độ bồi lắng nghiêm trọng nhất? Khu vực cửa vào lòng hồ tại vùng thượng lưu và các đoạn uốn khúc quanh mặt cắt số 4 và số 9 bị bồi lắng nặng nhất. Vận tốc dòng chảy giảm đột ngột khi gặp mực nước dâng bình thường 272 m khiến các hạt cát thô và phù sa hạt lớn nhanh chóng lắng đọng thành nêm bùn cát dày.

Thời điểm nào thích hợp nhất để vận hành xả bùn cát qua các cửa van đập tràn? Thời điểm tối ưu là vào các trận lũ đầu mùa mưa trong khoảng tháng 5 đến tháng 7 hàng năm, khi lưu lượng nước về hồ vượt 450 m3/s và mực nước hồ được hạ về gần mực nước chết 268 m. Vận tốc dòng chảy đáy tăng vọt qua 5 cửa van cung sẽ tạo lực cuốn trôi lớp phù sa mới lắng đọng.

Mức độ che phủ rừng trên lưu vực sông Srêpôk có vai trò ra sao đối với quá trình bồi tích lòng hồ? Thảm phủ thực vật chiếm khoảng 70% diện tích lưu vực đóng vai trò giữ đất và cản dòng chảy tràn mặt. Khi diện tích rừng bị suy giảm, tốc độ xói mòn đất bazan trên sườn dốc tăng mạnh, làm lượng phù sa đổ về hồ trong mùa mưa tăng thêm từ 20% đến 35%, đẩy nhanh tốc độ bồi lấp lòng hồ.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định chính xác hiện trạng bồi lắng lòng hồ Thủy điện Srêpôk 3 sau 7 năm vận hành thực tế giai đoạn 2010 – 2017 với mức nâng cao trình đáy từ 0,65 m đến 1,42 m tại các mặt cắt trọng điểm.
  • Thiết lập thành công mô hình thủy lực HEC-6 một chiều trên 15 mặt cắt ngang đại diện, đạt độ tin cậy cao trong mô phỏng bồi xói bùn cát lòng dẫn.
  • Dự báo chi tiết diễn biến bồi lắng sau 50 năm khai thác, chỉ ra nguy cơ suy giảm gần 20% dung tích hữu ích nếu không có giải pháp kỹ thuật can thiệp kịp thời.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng phục vụ công tác điều phối vận hành liên hồ chứa trên hệ thống bậc thang sông Srêpôk công suất 220 MW.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa công trình xả cát định kỳ, nạo vét cơ giới và phi công trình nâng cao độ che phủ rừng lưu vực lên 75%.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2020 đến 2025, công tác quan trắc địa hình lòng hồ cần được thực hiện định kỳ để tiếp tục chuẩn hóa bộ thông số mô hình. Các đơn vị quản lý thủy điện và cơ quan chuyên trách tài nguyên nước cần sớm ứng dụng các đề xuất của luận văn vào thực tiễn vận hành nhằm bảo vệ tối đa dung tích hữu ích và nâng cao tuổi thọ công trình.