Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Chương 2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2014 và biến động sử dụng đất năm 2005 - 2014 huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng Chương 3: Đề xuất định hƣớng sử dụng đất đến năm 2020 huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG HỢP LÝ ĐẤT ĐAI 1. Khái niệm về đất đai a) Khái niệm Theo V. Docuchaev, đất là một thể tự nhiên độc lập cũng giống nhƣ khoáng vật, thực vật, động vật, đất không ngừng thay đổi theo thời gian và không gian.
Về mặt thuật ngữ khoa học, đất đai đƣợc hiểu theo nghĩa rộng nhƣ sau: Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trƣờng sinh thái ngay trên và dƣới bề mặt đó bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhƣỡng, dạng địa hình, mặt nƣớc, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nƣớc ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cƣ của con ngƣời, những kết quả của con ngƣời trong quá khứ và hiện tại để lại [5]. Có thể đƣa ra một định nghĩa đầy đủ nhƣ sau: “Đất là một diện tích cụ thể của bề mặt đất liền trái đất, bao gồm tất cả các đặc tính sinh quyển ngay trên hay dƣới bề mặt đó gồm có: yếu tố khí hậu gần bề mặt trái đất; các dạng thổ nhƣỡng và địa hình, thuỷ văn bề mặt (gồm: hồ, sông, suối và đầm lầy nƣớc cạn); lớp trầm tích và kho dự trữ nƣớc ngầm sát bề mặt trái đất; tập đoàn thực vật và động vật; trạng thái định cƣ của con ngƣời và những thành quả vật chất do các hoạt động của con ngƣời trong quá khứ và hiện tại tạo ra (nhƣ: các bậc thềm, hồ chứa nƣớc hoặc các hệ thống tiêu thoát nƣớc, đƣờng xá, công trình xây dựng. Đất đai đƣợc hiểu theo nghĩa rộng là: “một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó bao gồm khí hậu bề mặt, thổ nhƣỡng, dạng địa hình - hình thái, mặt nƣớc (hồ, sông, suối, đầm lầy…). Tập đoàn thực vật, động vật (HST); Các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nƣớc ngầm và khoáng sản trong lòng đất; trạng thái định cƣ của con ngƣời; Những kết quả của con ngƣời trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nƣớc hay hệ thống tiêu thoát nƣớc, đƣờng sá, nhà cửa…” [Hội nghị quốc tế về Môi trƣờng ở Rio de Janerio, Brazil 1993].
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đất đai là một vật thể tự nhiên nhƣng mang tính lịch sử luôn tham gia vào các mối quan hệ xã hội cụ thể là quá trình sử dụng đất, quá trình này chịu sự chi phối của các điều kiện tự nhiên nhƣ khí hậu bề mặt, địa hình - hình thái, thủy văn, quy luật sinh thái tự nhiên cùng các quy luật kinh tế xã hội và kỹ thuật. Vậy đất đai là tổ hợp các dạng tài nguyên thiên nhiên được đặc trưng bởi một lãnh thổ, một chất lượng của các loại đất (soil), bởi một kiểu khí hậu, một dạng địa hình, một chế độ thủy văn, một kiểu thảm thực vật… Đất đai chính là cơ sở không gian (đơn vị hành chính) của việc bố trí các đối tƣợng sản xuất, định cƣ và là phƣơng tiện sản xuất mà trƣớc hết và rõ nhất là kinh tế nông - lâm - ngƣ nghiệp, dân cƣ và xây dựng dân dụng… Khi nói đến đơn vị đất đai (Land Unit) là bộ phận không gian lãnh thổ đã kèm theo ngƣời sở hữu hoặc ngƣời có quyền sử dụng và quản lý nó. Nhƣ vậy có thể nói: Đất đai là đơn vị lãnh thổ có giới hạn theo chiều thẳng đứng gồm: khí hậu, lớp đất phủ bề mặt (soil), thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nƣớc, tài nguyên nƣớc ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Theo chiều nằm ngang: trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhƣỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác) tạo nên mối liên kết trong chu trình vật chất và năng lƣợng giữa các hệ sinh thái tự nhiên hay hệ sinh thái nông nghiệp kề cận.
Đây là mối quan hệ tạo nên cơ cấu đất của mỗi đơn vị lãnh thổ nói chung hay trên mỗi đơn vị hành chính - kinh tế nói riêng. Trong các hoạt động sản xuất, sinh tồn của xã hội loài ngƣời đất đai có các chức năng nhƣ: + Sản xuất: qua quá trình sản xuất, đất đai cung cấp lƣơng thực, thực phẩm và rất nhiều sản phẩm khác cho con ngƣời sử dụng trực tiếp hay gián tiếp thông qua sản xuất nông nghiệp. + Môi trƣờng sống: cung cấp môi trƣờng sống cho sinh vật và gen di truyền để bảo tồn nói giống cho thực vật, động vật và các cá thể sống cả trên và dƣới mặt đất. + Cân bằng sinh thái: hình thành một thể cân bằng năng lƣợng trái đất thông qua việc phản xạ, hấp thụ và chuyển đổi năng lƣợng phóng xạ từ mặt trời và tuần hoàn khí quyển.
+ Tàng trữ và cung cấp nguồn nƣớc: kho tàng dự trữ nƣớc ngầm, nƣớc mặt vô tận, tác động mạnh tới chu trình tuần hoàn nƣớc và có vai trò điều tiết nƣớc rất to lớn. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Dự trữ (nguyên liệu và khoáng sản trong lòng đất) cung cấp cho nhu cầu sử dụng của con ngƣời. + Không gian sự sống: là môi trƣờng đệm và làm thay đổi hình thái, tính chất của các chất thải độc hại. + Bảo tồn, bảo tàng lịch sử: trung gian để bảo vệ chứng tích lịch sử, văn hóa của loài ngƣời, lƣu giữ thông tin về điều kiện khí hậu, thời tiết và cả quá trình sử dụng đất trong quá khứ.
b) Sử dụng hợp lý tài nguyên đất Sử dụng tài nguyên đất cần phù hợp với chức năng vốn có của đất đai kết hợp với các biện pháp bảo vệ tài nguyên, môi trƣờng đất cho phù hợp và phục vụ phát triển bền vững đất đai. Luật đất đai 1993 của Việt Nam đã khẳng định: đất đai là tài sản quốc gia; là tƣ liệu sản xuất đặc biệt; là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống; là địa bàn phân bố dân cƣ xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội an ninh và quốc phòng. Đất đai là nguồn tài nguyên không tái tạo và nằm trong nhóm tài nguyên hạn chế của Việt Nam. Vì vậy, muốn sử dụng hợp lý tài nguyên đất chúng ta cần quy hoạch sử dụng đất bền vững.
Tiến hành đánh giá tiềm năng đất đai gồm tiềm năng tự nhiên và tiềm năng kinh tế xã hội từ đó chỉ ra những thuận lợi và hạn chế là tiền đề cho quy hoạch sử dụng đất. Trƣớc khi tiến hành quy hoạch sử dụng đất cần đánh giá hiện trạng sử dụng đất qua các năm và làm rõ sự biến động đất đai trong một giai đoạn cụ thể và gắn với một đơn vị lãnh thổ. Trên cơ sở dự báo nhu cầu đất đai chỉ ra xu thế chuyển dịch đất đai nhằm định hƣớng dài hạn sử dụng quỹ đất đai thông qua luật đất đai. Nhƣ vậy, quy hoạch sử dụng đất và sử dụng hợp lý tài nguyên đất có mối quan hệ bổ trợ tƣơng hỗ cho nhau.
Sử dụng đất đai một cách khoa học, hợp lý là nhiệm vụ mang tính cấp bách và lâu dài của nƣớc ta. Trong thực tế, một thời gian dài việc sử dụng đất đai khoa học, hợp lý chủ yếu hƣớng vào đất nông nghiệp và từng thời kỳ đƣợc thực hiện một cách phiến diện. Có thời kỳ chủ yếu hƣớng vào việc mở rộng đất canh tác với mục tiêu tự túc lƣơng thực theo lãnh thổ hành chính bằng mọi giá, đôi khi trọng tâm lại hƣớng vào đổi mới cơ cấu diện tích gieo trồng với mục tiêu hiệu quả kinh tế… 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi sử dụng hợp lý đất đai là vấn đề phức tạp chịu sự ảnh hƣởng của nhiều yếu tố quan trọng khác nhau, về thực chất đây là vấn đề kinh tế liên quan đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nhiệm vụ đặt ra là sử dụng tối đa quỹ đất quốc gia để phục vụ phát triển nền kinh tế quốc dân và xã hội, dựa trên nguyên tắc ƣu tiên đất đai cho sản xuất nông nghiệp.
Sử dụng hợp lý đất nông nghiệp cần đảm bảo bền vững sinh thái (thích nghi sinh thái), bền vững về môi trƣờng (tự nhiên và nhân văn), bền vững con ngƣời và mang lại hiệu quả kinh tế lâu dài. Sử dụng hợp lý tài nguyên đất là sử dụng đất đai hợp với các quy luật tụ nhiên, phù hợp với chức năng vốn có của nó. Sử dụng hợp lý tài nguyên đất là phƣơng thức sử dụng đất nhằm sản xuất đƣợc ổn định, lâu dài và phát triển. Ổn định là đứng vững về mặt kinh tế, đời sống và đƣợc xã hội chấp nhận; lâu dài là giảm đƣợc mức độ nguy cơ cho sản xuất và môi trƣờng; phát triển là bảo vệ đƣợc tiềm năng của các nguồn lợi tự nhiên (FAO,1991); (Nguyễn Xuân Quát , 2004).
c) Sử dụng đất và sự bền vững Quy hoạch sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nƣớc về tổ chức và sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất cả nƣớc, tổ chức sử dụng đất nhƣ một tƣ liệu sản xuất cùng với các tƣ liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trƣờng. Một mục đích cơ bản của việc quản lý đất đai tốt là đảm bảo sự phát triển bền vững. Tất cả các phong cảnh thay đổi theo thời gian thông qua sự can thiệp của con ngƣời hoặc những quá trình tự nhiên. Điều cần thiết là những thay đổi này đƣợc quản lý, đƣợc hiểu và việc sử dụng đất đai đƣợc sử dụng một cách bền vững và sự phát triển đó đáp ứng những yêu cầu hiện nay mà không can thiệp đến khả năng của các thế hệ tƣơng lai, để đáp ứng những yêu cầu của chính họ (WCED 1987 ).