Luận văn thạc sĩ hay đánh giá hiện trạng bảo tồn các loài thực vật thuộc ngành hạt trần gymnospermae tại vườn quốc gia phong nha kẻ bàng quảng bình

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hay đánh giá hiện trạng bảo tồn các loài thực vật thuộc ngành hạt trần gymnospermae tại vườn quốc, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại học Lâm nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2012

93
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan nghiên cứu

1.1.1. Nghiên cứu trên thế giới

1.1.1.1. Lớp Tuế (Cycadopsida)

1.1.2. Nghiên cứu trong nước

2. ĐẶT VẤN ĐỀ

3. MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1. Mục tiêu tổng quát

3.1.2. Mục tiêu cụ thể

3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu

3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thành phần các loài lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN-KB

4.2. Diện tích phân bố các loài lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN-KB

4.3. Hiện trạng bảo tồn của các loài lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN-KB

4.4. Đặc điểm về hình thái, phân bố, khả năng tái sinh và hiện trạng của các loài thuộc lớp Tuế và lớp Thông tại VQG PN-KB

4.5. Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thực vật thuộc lớp Tuế (Cycadopsida) và lớp Thông (Pinopsida) tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng

4.5.1. Giải pháp về kỹ thuật

4.5.2. Giải pháp về tuần tra, bảo vệ

4.5.3. Giải pháp về chính sách và kinh phí

5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá bảo tồn thực vật hạt trần tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng

Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng là một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học cao tại Việt Nam. Nơi đây không chỉ nổi tiếng với các hệ thống hang động mà còn là nơi sinh sống của nhiều loài thực vật hạt trần quý hiếm. Đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật thuộc ngành Hạt trần (Gymnospermae) tại đây là rất cần thiết để bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên thiên nhiên.

1.1. Đặc điểm sinh thái và đa dạng thực vật tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng

VQG Phong Nha - Kẻ Bàng có hệ sinh thái phong phú với nhiều loại thực vật hạt trần. Đặc điểm địa hình và khí hậu tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài thực vật này.

1.2. Vai trò của thực vật hạt trần trong hệ sinh thái

Thực vật hạt trần đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái. Chúng không chỉ cung cấp oxy mà còn là nơi cư trú cho nhiều loài động vật.

II. Thách thức trong việc bảo tồn thực vật hạt trần tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng

Mặc dù VQG Phong Nha - Kẻ Bàng có nhiều tiềm năng, nhưng việc bảo tồn thực vật hạt trần đang đối mặt với nhiều thách thức. Các yếu tố như biến đổi khí hậu, khai thác tài nguyên và ô nhiễm môi trường đang đe dọa sự tồn tại của các loài này.

2.1. Nguy cơ tuyệt chủng của các loài thực vật hạt trần

Nhiều loài thực vật hạt trần tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đang bị đe dọa tuyệt chủng do sự thay đổi môi trường sống và hoạt động của con người.

2.2. Tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thực vật

Biến đổi khí hậu gây ra những thay đổi lớn trong điều kiện sinh thái, ảnh hưởng đến sự phát triển và sinh trưởng của thực vật hạt trần.

III. Phương pháp đánh giá tình trạng bảo tồn thực vật hạt trần

Để đánh giá tình trạng bảo tồn các loài thực vật hạt trần, cần áp dụng các phương pháp khoa học hiện đại. Việc thu thập dữ liệu và phân tích tình trạng sinh thái là rất quan trọng.

3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu hiện trạng

Sử dụng các phương pháp khảo sát thực địa và thu thập mẫu vật để đánh giá số lượng và phân bố của các loài thực vật hạt trần.

3.2. Phân tích tình trạng bảo tồn theo tiêu chuẩn IUCN

Áp dụng tiêu chuẩn IUCN để phân loại và đánh giá mức độ nguy cấp của các loài thực vật hạt trần tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng.

IV. Kết quả nghiên cứu về tình trạng bảo tồn thực vật hạt trần

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều loài thực vật hạt trần tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đang trong tình trạng nguy cấp. Cần có các biện pháp bảo tồn cụ thể để bảo vệ các loài này.

4.1. Tình trạng phân bố của các loài thực vật hạt trần

Nghiên cứu chỉ ra rằng một số loài thực vật hạt trần có diện tích phân bố hạn chế, điều này làm tăng nguy cơ tuyệt chủng.

4.2. Đánh giá khả năng tái sinh của các loài

Khả năng tái sinh của một số loài thực vật hạt trần tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các yếu tố môi trường.

V. Giải pháp bảo tồn thực vật hạt trần tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng

Để bảo tồn các loài thực vật hạt trần, cần triển khai các giải pháp đồng bộ. Các biện pháp bảo vệ môi trường và nâng cao nhận thức cộng đồng là rất quan trọng.

5.1. Các biện pháp bảo vệ môi trường

Cần thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường như kiểm soát ô nhiễm và bảo vệ các khu vực sinh sống của thực vật hạt trần.

5.2. Nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo tồn

Tổ chức các chương trình giáo dục và tuyên truyền để nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo tồn thực vật hạt trần.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai của bảo tồn thực vật hạt trần

Bảo tồn thực vật hạt trần tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng là một nhiệm vụ cấp bách. Cần có sự hợp tác giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để đảm bảo sự tồn tại của các loài này trong tương lai.

6.1. Tầm quan trọng của bảo tồn thực vật hạt trần

Bảo tồn thực vật hạt trần không chỉ giúp duy trì đa dạng sinh học mà còn góp phần vào phát triển bền vững.

6.2. Triển vọng phát triển bền vững tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng

Với các biện pháp bảo tồn hiệu quả, VQG Phong Nha - Kẻ Bàng có thể trở thành mô hình điển hình cho bảo tồn đa dạng sinh học tại Việt Nam.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay đánh giá hiện trạng bảo tồn các loài thực vật thuộc ngành hạt trần gymnospermae tại vườn quốc gia phong nha kẻ bàng quảng bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới 1.Lớp Tuế (Cycadopsida) Trên thế giới, có 1 bộ Tuế (Cycadales) với 3 họ: Họ Tuế Cycadaceae Pers. Johnson và Zamiaceae Horan.

gồm 11 chi, 293 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới của hai bán cầu. Đây là lớp lớn thứ hai sau lớp Thông trong ngành Hạt trần và là lớp thực vật cổ được xem là “hóa thạch sống” xuất hiện trên trái đất trước lớp Thông từ kỷ Carbon cách đây 300 triệu năm. Các loài của lớp này đã gắn với hoạt động của con người từ 7.000 năm trước đây với tác dụng làm thức ăn, nước uống, làm thuốc và làm cảnh, nhiều loài gây độc cho người và gia súc vì có hoạt chất Cycanine. Hiện tại các loài của lớp Tuế đều được buôn bán phổ biến trên thị trường trong nước và quốc tế, chính vì vậy nó được quan tâm bảo vệ và được đưa vào phụ lục I hoặc II trong công ước Quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã có nguy cơ bị tuyệt chủng (CITES).

Giống như lớp Thông, các họ trong lớp Tuế cũng được các chuyên gia của tổ chức IUCN (IUCN- SSC) đặc biệt quan tâm chú ý nghiên cứu về thành phần loài, sinh học và tình trạng bảo tồn. Trên thế giới, chi Tuế được biết tới khoảng 100 loài, phân bố rất rộng tại nhiều quốc gia Châu Á, Châu Phi, Châu Úc trải dài 13.000 km từ Đông sang Tây và 6.000 km từ Bắc xuống Nam của trái đất [38]. Nhiều chuyên khảo về Tuế trên thế giới và khu vực đã được công bố như Tuế Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Australia, trong đó Việt Nam là quốc gia có mức đa dạng về Tuế cao thứ hai trên thế giới chỉ xếp sau Australia [38]. Chúng phân bố hầu khắp thế giới, ngoại trừ các vùng cực, vùng núi cao nhất, những sa mạc khô hạn nhất, và một vài đảo ngoài đại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Chúng thuộc nhóm thực vật cổ nhất trong hai ngành thực vật có hạt hiện đại có lịch sử tiến hóa lâu đời từ hơn 250 triệu năm trước, chúng được coi là “hóa thạch sống” còn lại, nhiều loài trong chúng đang tiến gần tới tuyệt chủng vì có những giá trị đặc biệt cho gỗ, nhựa, hương liệu và y học. Trên thế giới, đặc biệt các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Lào đều đã có các nghiên cứu sâu về thành phần loài các loài Thông về phân loại học. Dựa trên các thành tựu mới nhất về phân loại học, nhóm chuyên gia Thông trên thế giới thuộc tổ chức IUCN (IUCN- SSC) thường xuyên hợp tác rất chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về thành phần loài, đặc biệt trong lĩnh vực đánh giá tình trạng bảo tồn của chúng ở cấp các quốc gia và cấp toàn cầu. Trong Danh lục đỏ của IUCN, các loài Thông trên thế giới đã thống kê được 200 taxa bị đe dọa tuyệt chủng [31].

Số loài bị đe dọa tuyệt chủng đã không ngừng tăng lên theo các năm: Năm 2004 có 153 loài (17-CR, 43-EN, 93-VU) [30], 2008 là 172 loài (21-CR, 54-EN, 97-VU) [17], [31] và năm 2011 con số này đã lên tới 177 loài (22-CR, 58-EN, 97-VU) [40]. Nghiên cứu trong nước 1. Lịch sử nghiên cứu phân loại các loài thuộc họ Tuế có từ nửa sau của thế kỷ 18. Hai loài Tuế đầu tiên trên thế giới được mô tả là Cycas circinalis L.

được biết tới từ Ấn Độ (1753) và Cycas revoluta Thunb. từ Nhật Bản (1782). Năm 1793, nhà tự nhiên học người Bồ Đào Nha J. de Loureiro công bố loài Cycas inermis dựa trên các mẫu vật thu được ở Nam Việt Nam.

Hai loài mới là Cycas tonkinensis và C. bellefontii được hai nhà thực vật là Linden và Rodigas mô tả năm 1885 và 1886 dựa trên các cây thu được ở Bắc Việt Nam nhưng được trồng tại các vườn ở Châu Âu, song không có tiêu bản nên các tên loài này được đánh giá là không có giá trị. Tới năm 1900, Otto Warburg mô tả loài Cycas balansae có mẫu thu được trong một ngôi chùa của vùng làng Bưởi, 5 năm muộn hơn, William Thiselton- Dyer công bố loài Cycas micholitzii (1905) có nguồn gốc từ miền Trung Việt Nam- Lào. Tới năm 1931 Jacques Leandri, trong cuốn Thực vật chí Đại cương Đông Dương (Flore Generale de L’Indochine) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đã mô tả Cycas chevalieri và Cycas pectinata var.

elongata (hiện tại là C. elongata) từ Trung và Nam Việt Nam [36]. Trong thời gian này các loài phân bố rất rộng tại Đông Nam Á là Cycas pectinata và Cycas siamensis cũng đã được ghi nhận tại Việt Nam. Những tên gọi Cycas circinalis L., Cycas rumphii Miq., Cycas undulata Desf., Cycas miquelii Warb.

và Cycas imersa Craib. cũng được trích dẫn không chính xác đối với nghiên cứu Tuế tại Việt Nam. Như vậy trong suốt thế kỷ 20 từ đầu năm 1900, các loài Tuế tại Việt Nam biến động từ 8 tới 10 loài. Mãi tới năm 1996, Nguyễn Tiến Hiệp và J.Vidal đã chính thức công nhận 8 loài Tuế Việt Nam, trong đó có một loài nhập nội là Cycas revoluta trong tác phẩm “Flore du Cambodge du Laos et du Vietnam” [33].

Tuy nhiên, trong vòng 12 năm từ 1992 tới 2004 nhiều đợt nghiên cứu thực địa tại 39 trên tổng số 58 tỉnh của Việt Nam, các nhà thực vật Việt Nam là Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc đã hợp tác rất chặt chẽ và có hiệu quả với các nhà thực vật quốc tế như: Si Ling Yang, Ding Yue Wang, Fan Nan Wei và Chia Jui Chen (Trung Quốc), Anders Lindsstom (Thái Lan) và đặc biệt là Ken D. Chính nhờ các nghiên cứu khoa học này, dựa trên công ước CITES và tình hình thực tế về bảo tồn các loài Tuế tại Việt Nam, các nhà thực vật đã đề xuất và được chính phủ Việt Nam chính thức công nhận tất cả các loài Tuế hoang dại của Việt Nam nằm trong nhóm IIA Thực vật rừng, động vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại của Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [9]. Trong Sách đỏ Việt Nam và Danh lục đỏ Việt Nam (Phần thực vật) xuất bản 1996 và 2007, 12 loài Tuế mọc hoang đã được đánh giá tình trạng bảo tồn theo cách xếp hạng của IUCN, 1994 [4], [5], [6]. Lớp Thông (Pinopsida) Việc nghiên cứu phân loại Thông bắt đầu từ đầu thế kỷ 20, đầu tiên phải kể tới là nhà thực vật người Pháp- Hickel, trong năm 1931 ông đã mô tả 16 loài của lớp Thông tại Việt Nam, Lào và Cam pu chia, tuy nhiên việc phân loại còn thiếu chính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 xác và cụ thể [32].

Muộn hơn, các nhà thực vật như người Pháp (A. Gaussen), Trung Quốc, Anh đã công bố lẻ tẻ và bổ sung một số loài cho khu vực Đông Dương. Tới năm 1996, một nghiên cứu tương đối đầy đủ và có hệ thống về lớp Thông của Việt Nam, Lào và Cam pu chia đã được Nguyễn Tiến Hiệp và Vidal J. Trong công trình Flore du Cambodge du Laos et du Việt Nam, các tác giả đã mô tả 6 họ, 19 chi, 36 loài Thông ở Việt Nam.

Trong tổng số 36 loài Thông đó thì có 9 loài là cây trồng nhập nội (Juniperus chinensis Linné, Juniperus squamata Buchanan-Hamilton, Cupressus duclouxiana Hickel, Cupressus funebris Endlicher, Platycladus orientalis (Linné ) Franco, Taxodium distichum (Linné) L. Richard, và Podocarpus chinensis (Roxburgh) Wallich ex Forbes, Cunninghamia lanceolata (Lambert) Hooker, Pinus massoniana Lambert [33]. Số lượng các loài Thông mọc tự nhiên ở Việt Nam đã tăng lên đáng kể, cho tới nay đã là 34 loài; 33 loài Thông đã được Nguyễn Tiến Hiệp và cộng sự mô tả và đánh giá tình trạng bảo tồn dựa trên tiêu chuẩn IUCN (1994), và IUCN (2001) [11], trong đó có nhiều loài mới đối với khoa học như Xanthocyparis vietnamensis, Calocedrus rupestris, Amentotaxus hatuyensis [11], [33]. và nhiều loài bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam, trong đó có nhiều loài có giá trị bảo tồn như Pinus kwangtungensis, Psedotsuga sinensis, Keteeleria davidiana, Taiwania cryptomerioides ,Cunninghamia konishii và Pinus tabuliformis Carrière aff.

Nghiên cứu đánh giá tình trạng bảo tồn Thông ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu trong khoảng 15 năm qua, một trong những các kết quả quan trọng nhất của những nghiên cứu đó là các mô tả và đánh giá tình trạng bảo tồn Thông ở Việt Nam. Năm 1996 có 24 loài Thông được đánh giá [4], năm 2004, 33 loài Thông tự nhiên ở Việt nam được mô tả và đánh giá tình trạng bảo tồn [11], mới đây nhất là năm 2007, 16 loài Thông được đưa vào Sách đỏ Việt Nam (phần II - Thực vật) và Danh lục đỏ Việt Nam [5], [6]. Các kết quả nghiên cứu trên đã góp phần to lớn vào việc xây dựng Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Danh mục này là cơ sở pháp lý để quản lý các nhóm đối tượng này có hiệu quả.

Tuy nhiên, do các công trình nghiên cứu đó vẫn chưa được cập nhật nên đã thể hiện nhiều hạn chế; Số loài Thông tự nhiên ở Việt Nam đã tăng lên, hệ thống phân loại và danh pháp Thông trên thế giới đã thay đổi. Theo quan điểm mới nhất hiện nay họ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Cephalotaxaceae được nhập vào họ Taxaceae [37], thì 34 loài Thông Việt Nam sẽ được xếp vào 4 họ là: Cupressaceae Gray, Pinaceae Spreng.Rudolphi, Podocarpaceae Endlicher và Taxaceae Gray. Vì vậy, việc đánh giá tình trạng bảo tồn cho các loài dựa trên tiêu chuẩn IUCN cũng cần được được cập nhật. Nghiên cứu tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng Những nghiên cứu cụ thể về các loài Thông và Tuế tại VQG PN- KB không có.

Tuy nhiên những nghiên cứu về khu hệ và thảm thực vật tại VQG PN-KB từ trước đến nay đã có một số tài liệu điều tra bước đầu bao gồm: Điều tra xây dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu bảo tồn Phong Nha của Viện điều tra quy hoạch rừng (1991); dự án bảo tồn liên quốc gia (RAS/93/102/) (1996-1997); Kouznetsov, A. và Phan Lương, Viện sinh học nhiệt đới Việt - Nga (2001); GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2001 - 2003). Trong năm 2005, các nhà thực vật thuộc Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật hợp tác với Viện thực vật Cô ma rốp, Viện Hàn lâm khoa hoc Liên bang Nga đã tiến hành cuộc khảo sát đầu tiên về thảm thực vật và tính đa dạng thực vật ở VQG PN-KB có kèm theo các mẫu vật khô và mẫu cây sống thu thập làm bằng chứng khoa học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá bảo tồn thực vật hạt trần tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình trạng và các biện pháp bảo tồn thực vật hạt trần trong khu vực này. Bài viết không chỉ nêu rõ các loài thực vật đặc trưng mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và bảo tồn của chúng. Độc giả sẽ nhận được thông tin quý giá về tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học, cũng như những thách thức mà khu vực này đang phải đối mặt.

Để mở rộng kiến thức về bảo tồn thực vật và đa dạng sinh học, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Nghiên cứu bảo tồn một số loài thực vật quý hiếm tại vườn quốc gia Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ, nơi cung cấp thông tin về các loài thực vật quý hiếm và các biện pháp bảo tồn chúng. Ngoài ra, tài liệu Nghiên cứu đặc trưng sinh thái thảm thực vật vườn quốc gia Bidoup Núi Bà sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hệ sinh thái thực vật khác nhau và cách bảo tồn chúng. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu tương tác giữa cộng đồng và bảo tồn đa dạng sinh học tại vườn quốc gia Xuân Sơn sẽ mang đến cái nhìn về vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn thiên nhiên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến bảo tồn thực vật và đa dạng sinh học.