LỜI MỞ ĐẦU Đầu thế kỷ 20, người Pháp đã quy hoạch tổng thể thành phố Sài Gòn với quy mô 500,000 dân. Do đó, các quy hoạch về giao thông cũng chỉ đáp ứng đủ yêu cầu cho nửa triệu dân sinh sống. Tuy nhiên, trải qua các giai đoạn lịch sử, dân số của Sài Gòn đã tăng nhanh chóng, trong đó có hai giai đoạn bùng nổ tăng cơ học dân số là giai đoạn Sài Gòn là thủ đô của Việt Nam Cộng Hòa và giai đoạn sau năm 1975. Mặc dù đã được đầu tư nâng cấp liên tục.
Hiện nay cùng với quá trình phát triển kinh tế, quá trình công nghiệp hóa làm tình trạng giao thông tại Thành phố Hồ Chí Minh càng trầm trọng. Tuyến Quốc lộ 1A đoạn Tp. Hồ Chí Minh - Đồng Nai và Quốc lộ 51 là một trong những trục giao thông quan trọng của khu vực. Trong năm 1997 - 2000 đoạn tuyến QL1A từ Tp.
Hồ Chí Minh đến Biên Hoà đã được khôi phục, cải tạo mở rộng theo quy mô từ 4 - 6 làn xe. Tuyến QL51 cũng đã được nâng cấp lên 4 làn xe. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê, điều tra dự báo giao thông đến năm 2005, tuyến QL1 sẽ quá tải, không đáp ứng nổi nhu cầu giao thông liên vùng ảnh hưởng đến sức phát triển khu vực. Việc xây dựng mới các tuyến cao tốc phục vụ nhu cầu giao thông tương lai trên địa bàn vùng kinh tế trọng điểm là hết sức cần thiết.
Đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây đã được Chính phủ phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi tháng 6 năm 2002, được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận các nội dung của dự án bằng văn bản số 56/TTg-CN ngày 10/01/2007 và đã được Bộ GTVT ra Quyết định số 334/QĐ - BGTVT ngày 13/02/2007 về việc phê duyệt đầu tư dự án. Tuyến cao tốc này sẽ khắc phục thế độc đạo và chia sẻ lưu lượng vận tải của QL1A và QL51. Tuyến đường có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển và ổn định vùng kinh tế trọng điểm phía Nam đặc biệt là tam giác kinh tế Tp. Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu.
SVTH: LÊ THANH TUẤN MSSV: 0853011030 4 Khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của dự án đường cao tốc Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây đến môi trường nước Chính phủ Việt Nam quyết định xây dựng Đường cao tốc Tp.HCM - Long Thành - Dầu Giây (Đường cao tốc HLD) với sự hỗ trợ của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á ( ADB ) và Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Nhật Bản ( JICA ). Tổng công ty Đầu Tư Phát Triển Đường Cao Tốc Việt Nam (VEC) được giao nhiệm vụ chịu toàn bộ trách nhiệm trong việc triển khai dự án Đường cao tốc HLD. VEC ủy quyền trách nhiệm thực thi dự án cho Ban Quản Lý Dự án Đường Cao Tốc Tp. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây ( EPMU - HLD ).
Liên danh Trung tâm Khoa học Công nghệ Bảo vệ Môi trường Giao thông Vận tải (CEPT) và Trung tâm dịch vụ phân tích thí nghiệm Tp. Hồ Chí Minh (CASE) thực hiện công tác quan trắc môi trường giai đoạn xây dựng cho gói thầu 1A ( đợt 8, đợt 9, đợt 10 ), 1B, 2 và gói thầu 3 (đợt 9, 10, 11) vào các ngày 12, 13, 14 tháng 12 năm 2011, ngày 12, 13, 14 tháng 3 năm 2012 và 12, 13, 14 tháng 6 năm 2012. Công tác này được thực hiện nhằm đánh giá điều kiện chất lượng môi trường khi dự án đi vào giai đoạn xây dựng và từ đó xác định các hoạt động xây dựng có ảnh hưởng hay không tới môi trường khu vực. SVTH: LÊ THANH TUẤN MSSV: 0853011030 5 Khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của dự án đường cao tốc Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây đến môi trường nước PHẦN I: TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN [5] Dự án xây dựng đường cao tốc Tp.
Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây là dự án đặc biệt quan trọng thuộc Dự án đường bộ cao tốc Bắc - Nam. Dự án đi qua địa phận Quận 2, Quận 9 thuộc Tp. Hồ Chí Minh và các huyện Long Thành, Nhơn Trạch, Cẩm Mỹ và Thống Nhất thuộc tỉnh Đồng Nai, được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận tại văn bản số 56/TTg-CN ngày 10/01/2007, Bộ Giao thông vận tải phê duyệt dự án đầu tư xây dựng tại Quyết định số 334/QĐ-BGTVT ngày 13/02/2007. Chính Phủ Việt Nam quyết định xây dựng Đường cao tốc Tp.HCM - Long Thành - Dầu Giây (Đường cao tốc HLD) với sự hỗ trợ của Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB) và Cơ Quan Hợp Tác Quốc Tế Nhật Bản (JICA).
Tổng mức đầu tư cho dự án trong giai đoạn 1 là 932,4 triệu USD, trong đó vốn ODA của JICA (Nhật Bản) là 516,5 triệu USD; vốn vay OCR của ADB (vốn vay theo lãi suất thị trường của Ngân hàng phát triển Châu Á) là 410,2 triệu USD; còn lại vốn đối ứng của Công ty đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) tự huy động là 5,7 triệu USD. Tuyến chạy qua các vùng có mật độ dân cư thưa thớt, thảm thực vật ven tuyến chủ yếu là các loại cây ăn quả trồng trong vườn và một số cây công nghiệp như: cà phê, cao su; vùng trũng trồng lúa nước. Một số khu dân cư đông đúc tập trung tại các thị xã, thị trấn và các nút giao lớn như An Phú, Long Thành, Dầu Giây, còn lại tuyến nghiên cứu hầu hết đi qua khu vực trống trải, dân cư thưa thớt và không có công trình hạ tầng nào quan trọng. Địa chất phần lớn tuyến chạy trên vùng đất yếu.
Địa hình bằng phẳng bị chia cắt bởi nhiều sông kênh rạch. Tuyến đường cao tốc Tp. Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây là một bộ phận của hệ thống đường cao tốc Bắc Nam, trong giai đoạn 1 sẽ có 4 làn xe, chiều rộng nền đường 27,5m, tốc độ thiết kế 120 km/h. Khi hoàn thành, tuyến đường cao tốc hiện đại và đồng bộ nhất Việt Nam này sẽ là động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển tại khu vực tam giác kinh tế trọng điểm TP.
Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. SVTH: LÊ THANH TUẤN MSSV: 0853011030 6 Khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của dự án đường cao tốc Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây đến môi trường nước Dự án xây dựng Đường Cao Tốc HLD với tổng chiều dài khoảng 51km, được chia thành hai đoạn: - Đoạn 1: Từ Nút Giao Vành Đai 2 (Điểm đầu Gói thầu 1a; Km4+000) đến nút giao QL51 (điểm cuối Gói thầu 3; Km 23+900). Đoạn này được thiết kế theo tiêu chuẩn đường cao tốc TCVN5729-97, loại A, tốc độ thiết kế 120km/h với 4 làn xe chạy. Cầu Long Thành được thiết kế từng phần cho phép lưu thông với tốc độ 100km/h.
- Đoạn 2: Từ Nút giao QL51 (điểm cuối gói thầu 3/điểm bắt đầu Gói thầu 5; Km23+900) đến Nút giao Dầu Giây (điểm cuối Gói thầu 6; Km54+982).2 TỔNG QUAN VỀ NƯỚC [1] 1.1 Nước thải Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5980 - 1995 và ISO 6107/1-1980, nước thải là nước đã được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó. Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng. Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh ra chúng. Đó cũng là cơ sở trong việc lựa chọn các biện pháp giải quyết hoặc công nghệ xử lý.
Nước thải sinh hoạt là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở tương tự khác. Nước thải công nghiệp ( hay còn gọi là nước thải sản xuất ) là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu. Nước thấm qua là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí. Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng.
SVTH: LÊ THANH TUẤN MSSV: 0853011030 7 Khảo sát, đánh giá ảnh hưởng của dự án đường cao tốc Hồ Chí Minh - Long Thành - Dầu Giây đến môi trường nước Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chung chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên. Nước thải nếu không được kiểm soát, quản lý tốt và không có các biện pháp xử lý hữu hiệu; các dòng thải đó sẽ gây nên nhiều vấn đề nan giải, ngập úng đường phố, ô nhiễm môi trường và ô nhiễm các nguồn nước, phá vỡ mối cân bằng sinh thái tự nhiên và làm mất đi vẻ mỹ quan của các trung tâm đô thị. Để bảo vệ môi trường và duy trì các điều kiện sống trong lành, các nguồn nước thải cần phải được kiểm soát và quản lý nghiêm ngặt. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, việc đòi hỏi phải kiểm soát và xử lý nguồn nước thải đã trở thành luật lệ bắt buộc.
Hầu hết các ngành sản xuất đều có các tài liệu chỉ dẫn về tiêu chuẩn làm sạch nước thải.2 Nước mặt Nước mặt dùng để chỉ các loại nước lưu thông hoặc chứa trên bề mặt lục địa, mặt nước tiếp xúc với không khí: nước sông, suối, hồ, ao, kênh, rạch, … Ô nhiễm nước mặt xảy ra khi các chất độc hại tiếp xúc và giải thể hoặc thể chất trộn lẫn với nước. Bởi vì các mối quan hệ chặt chẽ giữa các lớp trầm tích và nước bề mặt, trầm tích bị ô nhiễm thường được coi là một phần của ô nhiễm nước bề mặt. Chất lượng nước mặt còn chịu ảnh hưởng bởi các quá trình tự nhiên ( mưa, lũ, hoạt động sống và chết đi của hệ sinh vật nước, …) cũng như hoạt động của con người (ví dụ như xả nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, dầu cặn, … vào nguồn nước mặt ). Trên cùng một con sông, chất lượng nước sông thường xuyên có sự thay đổi đáng kể theo không gian và thời gian.3 Nước ngầm Nước dưới đất (còn gọi là nước ngầm) được hình thành do nước mưa thấm qua các lớp đất đá trong lòng đất và được giữ lại ở các tầng chứa nước bên dưới bề mặt đất ở các độ sâu khác nhau.