Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ô nhiễm đất do hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) tồn lưu tại các kho trung chuyển cũ là vấn đề môi trường cấp bách tại Việt Nam. Từ những năm 70 của thế kỷ XX, hệ thống kho trung chuyển được thiết lập rộng khắp từ trung ương đến cấp tỉnh, huyện để cung ứng thuốc phục vụ sản xuất nông nghiệp. Sau khi các kho này ngừng hoạt động hoặc bị phá dỡ, một lượng lớn hóa chất độc hại, bao bì và đất nhiễm độc bị chôn lấp sơ sài, không theo quy chuẩn kỹ thuật. Hóa chất tồn lưu phát tán ra môi trường xung quanh, ngấm vào đất, nước ngầm, trầm tích và đi vào chuỗi thức ăn, đe dọa trực tiếp đến hệ sinh thái và sức khỏe con người.

Tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, kho trung chuyển HCBVTV tại xóm Na Long, xã Hóa Trung được thành lập từ những năm 1980 và ngừng hoạt động vào năm 1992. Mặc dù công trình đã dỡ bỏ hơn hai thập kỷ, khu vực này vẫn phát sinh mùi nồng nặc khi thời tiết thay đổi. Đất nền kho và các thùng phi chứa hóa chất tồn đọng bị chôn lấp ngay tại chỗ, sau đó khu đất được san gạt, chuyển mục đích sử dụng làm nhà máy sản xuất gạch nhẹ và đất canh tác, sinh hoạt của người dân. Trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình nào rà soát tổng thể, quan trắc định lượng mức độ ô nhiễm và đánh giá ảnh hưởng dịch tễ học tại điểm nóng này.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  1. Đánh giá ô nhiễm môi trường đất do HCBVTV tồn lưu tại khu vực nghiên cứu (xóm Na Long, xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên).
  2. Đánh giá ảnh hưởng của việc ô nhiễm hóa chất BVTV đến sức khỏe người dân địa phương.
  3. Làm căn cứ khoa học để lựa chọn các biện pháp xử lý triệt để ô nhiễm môi trường do HCBVTV gây ra.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Môi trường đất xung quanh kho hóa chất bảo vệ thực vật cũ trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi nội dung: Đánh giá các thông số tồn dư hóa chất nhóm clo hữu cơ trong đất và khảo sát tình trạng sức khỏe của cộng đồng dân cư sinh sống quanh khu vực kho.
  • Phạm vi không gian: Xóm Na Long, xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (tập trung vào diện tích nền kho cũ 90 m², bãi đổ đất san nền kho 50 m² và vùng đệm lân cận).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thu thập dữ liệu, lấy mẫu và điều tra thực địa từ tháng 1/2014 đến tháng 4/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về động học và độc học môi trường của nhóm hợp chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POPs), trọng tâm là hai hợp chất thuộc nhóm clo hữu cơ:

  • DDT (Dichlo - Dibenzen - Trichlothan): Hợp chất hóa học tổng hợp phát minh năm 1872, có đặc tính bền vững sinh học, khó tan trong nước, tan mạnh trong dung môi hữu cơ, tích lũy kéo dài hàng thập kỷ trong đất và khuếch đại sinh học qua chuỗi thức ăn.
  • Lindan (đồng phân gamma của Hexachlorocyclohexane - HCH / thuốc trừ sâu 666): Độc chất tác động mạnh lên hệ thần kinh trung ương, gan, thận và có khả năng tồn lưu xuyên biên giới.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn làm căn cứ đánh giá:

  • Luật Bảo vệ môi trường số 29/2005/L-CTN ngày 29/11/2005.
  • Quyết định số 184/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch quốc gia thực hiện Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.
  • Quyết định số 1946/QĐ-TTg ngày 21/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch xử lý, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do hóa chất BVTV tồn lưu trên phạm vi cả nước.
  • Quyết định số 1780/QĐ-UBND ngày 28/7/2009 của UBND tỉnh Thái Nguyên về phê duyệt đề cương dự án điều tra đánh giá thực trạng ô nhiễm các khu vực tồn lưu HCBVTV trên địa bàn tỉnh.
  • Công văn số 3923/VPCP-NN (ngày 17/7/2002) và Công văn số 78/Mtg-Ks (ngày 15/8/2002) về việc xử lý thuốc bảo vệ thực vật tồn đọng cần tiêu hủy.
  • Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 15:2008/BTNMT về dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp quan trắc thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và phương pháp xã hội học:

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tổng hợp báo cáo kinh tế - xã hội xã Hóa Trung, dữ liệu lưu trữ của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đồng Hỷ và số liệu điều tra hiện trạng kho HCBVTV của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên năm 2009.
  • Phương pháp lấy mẫu đất thực địa: Thu thập tổng cộng 16 mẫu đất tại 8 vị trí đại diện, mỗi vị trí lấy ở hai tầng độ sâu: 0,5 m và 1,0 m:
    • 03 vị trí tại nền kho cũ (diện tích 90 m²): ký hiệu từ MĐ-1 đến MĐ-3 (06 mẫu).
    • 03 vị trí tại khu vực đổ đất nền kho sau san gạt (diện tích 50 m²): ký hiệu từ MĐ-4 đến MĐ-6 (06 mẫu).
    • 02 vị trí tại khu vực dân cư và đất canh tác xung quanh: ký hiệu MĐ-7 và MĐ-8 (04 mẫu).
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm: Được phối hợp thực hiện cùng Trung tâm Quan trắc và Công nghệ Môi trường Thái Nguyên:
    • Phân tích dư lượng DDT theo TCVN 6124:1996 (Chất lượng đất - Xác định dư lượng DDT trong đất bằng phương pháp sắc ký khí lỏng).
    • Phân tích dư lượng Lindan theo TCVN 6132:1996 (Chất lượng đất - Xác định dư lượng Lindan trong đất bằng phương pháp sắc ký lỏng).
    • Tiêu chuẩn so sánh: QCVN 15:2008/BTNMT.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp ngẫu nhiên 50 hộ gia đình/cá nhân sinh sống và canh tác quanh khu vực kho xóm Na Long nhằm thu thập dữ liệu về mức độ nhận thức, thói quen bảo hộ lao động và tần suất xuất hiện các bệnh lý liên quan đến phơi nhiễm hóa chất độc hại.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Phân tích thống kê mô tả, lập bảng và biểu đồ bằng phần mềm Microsoft Excel 2010 và Microsoft Word 2010.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả xác lập tính cấp thiết của đề tài từ thực trạng ô nhiễm thứ cấp sau khi giải tỏa các kho thuốc bảo vệ thực vật thời kỳ bao cấp. Trình bày chi tiết mục đích, 3 mục tiêu cụ thể, 4 yêu cầu kỹ thuật cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng xóm Na Long, xã Hóa Trung.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết lý luận về độc tính học môi trường của HCBVTV (độc tính cấp tính qua chỉ số LD50, LC50 và độc tính mãn tính gây ung thư, dị tật). Cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình lưu trữ và ô nhiễm HCBVTV:

  • Bình diện quốc gia: Dẫn số liệu dự án UNDP/FAO và Bộ Tài nguyên & Môi trường (tháng 10/2009), toàn quốc ghi nhận 1.153 điểm ô nhiễm HCBVTV tồn lưu trên địa bàn 39 tỉnh, thành phố; trong đó 240 điểm ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng. Các kho trên cả nước đang lưu giữ trên 216 tấn thuốc, 37.000 lít hóa chất và 29 tấn bao bì độc hại rò rỉ.
  • Bình diện địa phương: Thống kê chi tiết 18 điểm kho chứa HCBVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên thuộc thành phố Thái Nguyên, huyện Phú Bình, huyện Phú Lương, huyện Phổ Yên, huyện Định Hóa và huyện Đồng Hỷ. Nhiều điểm đã bị chuyển đổi thành trường học, nhà mẫu giáo, chợ, thổ cư hoặc vườn cây ăn quả nhưng vẫn phát tán mùi hóa chất nồng nặc.
TT Địa điểm kho tại tỉnh Thái Nguyên Đơn vị chủ quản ban đầu Tình trạng mặt bằng tại thời điểm điều tra
1 Phố Phúc Trìu, xã Phúc Trìu, TP. Thái Nguyên Công ty Vật tư nông nghiệp tỉnh Đất bỏ hoang; chôn lấp thuốc thừa, bao bì mục nát tại nền kho
2 Xóm Mới, xã Thịnh Đức, TP. Thái Nguyên Công ty Cây trồng TP. Thái Nguyên Thổ cư và vườn cây ăn quả; từng tồn lưu 10 tấn thuốc khi giải tỏa
3 Xóm Cao Khánh và Cao Trãng, xã Phúc Xuân, TP. Thái Nguyên HTX Hợp Thành Từng xây trường cấp I trên nền kho bột 666; hiện bỏ hoang
4 Xóm Giữa 1, xã Phúc Xuân, TP. Thái Nguyên HTX Phúc Tiến Nền kho cũ hiện là nhà ở của dân; từng vỡ 300 kg thuốc bột 666
5 Xóm Vạn Già, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình Trạm Vật tư nông nghiệp Phú Bình Đất bỏ hoang, gần khu dân cư và đất trồng hoa màu
6 Xóm Làng, xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình HTX Hồng Kỳ Nền kho đã đào đất đổ đi; hiện là nhà mẫu giáo và nhà dân
7 Xóm Nam, xã Úc Kỳ, huyện Phú Bình Tổng công ty Vật tư nông nghiệp TW Hiện là đất thổ cư và nhà mẫu giáo; từng chôn lấp phuy thuốc 200 lít
8 Thị trấn Đu, huyện Phú Lương Trạm Vật tư nông nghiệp Phú Lương Trung tâm dạy nghề huyện Phú Lương; đã đổ đất phủ nền kho
9 Xóm Tân Hoà, xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương Trạm Vật tư nông nghiệp Phú Lương Trường tiểu học Phấn Mễ; nền kho cũ đã xây nhà vệ sinh
10 Xóm Ao Trám, xã Động Đạt, huyện Phú Lương Nông trường Phú Lương Vườn cây ăn quả, bãi sắn và văn phòng nông trường
11 Km số 8, xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương Công ty CP Vật tư BVTV Thái Nguyên Kho lưu giữ thuốc đang lưu thông và thuốc bắt giữ; ao lưu nước thải
12 Km số 9, xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ Trạm Vật tư nông nghiệp Đồng Hỷ San lấp làm nhà xưởng gạch nhẹ; chôn lấp phuy thuốc cách nền 3 m
13 Đội 10, TT. Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ Công ty chè Sông Cầu Đã san nền trồng chè từ năm 2001; hiện là nương chè
14 Xóm Quán Vã, xã Đồng Tiến, huyện Phổ Yên Trạm Vật tư nông nghiệp Phổ Yên Đất thổ cư; kho xây năm 1958 dỡ năm 1984, tồn đọng mùi nồng
15 Đồi Cao Hương, xã Tân Hương, huyện Phổ Yên Trạm Vật tư nông nghiệp Phổ Yên Đất chuyển giao quân đội quản lý; từng chôn lấp khoảng 3 tấn thuốc
16 Ga Phổ Yên, huyện Phổ Yên Kho trung chuyển đường sắt Đất trống và đất thổ cư; bao bì và phuy rách nát ngoài trời
17 Chợ Quán Vuông, xã Trung Hội, huyện Định Hóa Trạm Vật tư nông nghiệp Định Hóa San ủi làm chợ dân sinh; sập kho làm bục nhiều bao thuốc bột 666
18 Chợ Bảo Cường, xã Bảo Cường, huyện Định Hóa Trạm Vật tư nông nghiệp Định Hóa Hiện trạng là chợ và đất thổ cư của nhân dân

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày các thông tin cơ sở về địa lý, hành chính xã Hóa Trung (diện tích 11,89 km², có Quốc lộ 1B đi qua). Quy định mạng lưới 16 mẫu đất tại 8 vị trí khảo sát thuộc nền kho cũ (khoảng 90 m²), bãi đổ đất san ủi (khoảng 50 m²) và khu đất xung quanh. Chi tiết hóa quy trình chuẩn phân tích dư lượng DDT (TCVN 6124:1996) và Lindan (TCVN 6132:1996) bằng phương pháp sắc ký.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này cung cấp các kết quả định lượng về ô nhiễm đất và điều tra phỏng vấn cộng đồng:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội: Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1.189,45 ha (đất nông nghiệp chiếm 1.020,14 ha, đất lâm nghiệp 249,7 ha). Dân số 5.031 người với 1.258 hộ, tỷ lệ hộ nghèo chiếm 4,2%, cận nghèo chiếm 10,3%. Hệ thống giao thông có 20,8 km đường trục và liên thôn, phần lớn là đường đất cấp phối (10,47 km). Toàn xã có 119 hộ kinh doanh thương mại dịch vụ; người dân chủ yếu dùng nước giếng đào.
  • Mức độ ô nhiễm đất nền kho cũ: Hàm lượng DDT và Lindan ở cả 3 vị trí đều vượt ngưỡng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 15:2008/BTNMT hàng chục đến hàng trăm lần. Mức độ ô nhiễm có xu hướng giảm dần theo chiều sâu từ tầng 0,5 m xuống tầng 1,0 m. Hàm lượng DDT cao nhất đo được tại vị trí 3 ở độ sâu 0,5 m, vượt tới 979 lần quy chuẩn; hàm lượng Lindan cao nhất tại cùng vị trí vượt 149 lần quy chuẩn.
  • Mức độ ô nhiễm khu vực đổ đất san nền kho: Toàn bộ các mẫu phân tích đều có dư lượng hóa chất vượt tiêu chuẩn cho phép trên 100 lần đối với DDT và từ 31 đến 121 lần đối với Lindan. Nồng độ DDT cao nhất ghi nhận ở vị trí 4 tại độ sâu 1,0 m, vượt 421,8 lần quy chuẩn.
  • Khu vực xung quanh ô nhiễm: Tại các vị trí MĐ-7 và MĐ-8 ở cả hai tầng độ sâu, dư lượng DDT đo được là 0,004 mg/kg (nằm trong giới hạn cho phép), Lindan ở trạng thái không phát hiện (KPH). Điều này chỉ ra ô nhiễm chưa lan truyền mạnh theo phương ngang ở tầng đất mặt ra khu vực canh tác lân cận.
  • Kết quả khảo sát xã hội học và dịch tễ cộng đồng (50 người dân): Đa số người dân hiểu tác hại của hóa chất (100%) nhưng chỉ 56% có ý thức dùng bảo hộ và chỉ 12% từng được tập huấn kỹ thuật an toàn. Tỷ lệ mắc các triệu chứng thần kinh tiếp xúc kéo dài rất cao: đau đầu (72%), hoa mắt chóng mặt (70%), mất ngủ (20%), run tay (10%). Về bệnh lý mãn tính nguy hiểm: bệnh gan chiếm 28%, khối u ung thư chiếm 12%, thiểu năng trí tuệ 10%, bệnh thần kinh 6%, sảy thai 4%. Ghi nhận 2 trường hợp tử vong do ung thư gồm ông Nguyễn Văn Chức (sinh năm 1959, nhân viên trông coi kho) và bà Nguyễn Thị Thường (sinh năm 1961, người làm vườn sống cạnh kho).
  • Các giải pháp kỹ thuật công nghệ được phân tích: Đánh giá ưu nhược điểm của 4 phương án công nghệ xử lý tại Việt Nam: (1) Công nghệ hóa học kết hợp sinh học - thực vật học tại chỗ (bể cô lập, trồng cỏ vetiver và keo lá tràm); (2) Đốt trong lò nung clinker nhà máy xi măng Holcim Hà Tiên; (3) Công nghệ cách ly bê tông hóa bề mặt; (4) Công nghệ lò đốt hai buồng di động của Viện Công nghệ Môi trường / Bộ Tư lệnh Hóa học.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận đúc kết các phát hiện định lượng về nồng độ tồn lưu hóa chất nhóm clo hữu cơ tại điểm nóng xóm Na Long; xác nhận nguy cơ hiện hữu đối với sức khỏe cộng đồng và kiến nghị các giải pháp quản lý, quy hoạch khoanh vùng bảo vệ nguồn nước ngầm.


Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng từ văn bản

Nghiên cứu công bố các kết quả quan trắc nồng độ DDT và Lindan đối chiếu theo Quy chuẩn QCVN 15:2008/BTNMT:

Khu vực lấy mẫu Ký hiệu và độ sâu mẫu Nồng độ DDT (mg/kg) Số lần vượt QCVN (DDT) Nồng độ Lindan (mg/kg) Số lần vượt QCVN (Lindan)
Nền kho cũ (90 m²) MĐ-1 (độ sâu 0,5 m) — Vượt 860 lần — Vượt 127 lần
MĐ-1 (độ sâu 1,0 m) — Vượt trên chuẩn — Vượt trên chuẩn
MĐ-2 (độ sâu 0,5 m) — Vượt trên chuẩn — Vượt trên chuẩn
MĐ-2 (độ sâu 1,0 m) — Vượt 203 lần (thấp nhất) — Vượt 61 lần (thấp nhất)
MĐ-3 (độ sâu 0,5 m) — Vượt 979 lần (cao nhất) — Vượt 149 lần (cao nhất)
MĐ-3 (độ sâu 1,0 m) — Vượt trên chuẩn — Vượt trên chuẩn
Bãi đổ đất san nền (50 m²) MĐ-4 (độ sâu 0,5 m) — Vượt > 100 lần — Vượt 121 lần (cao nhất)
MĐ-4 (độ sâu 1,0 m) — Vượt 421,8 lần (cao nhất) — Vượt > 31 lần
MĐ-5 (độ sâu 0,5 m) — Vượt > 213 lần — Vượt > 60 lần
MĐ-5 (độ sâu 1,0 m) — Vượt > 100 lần — Vượt > 31 lần
MĐ-6 (độ sâu 0,5 m) — Vượt > 213 lần — Vượt > 60 lần
MĐ-6 (độ sâu 1,0 m) — Vượt > 100 lần — Vượt 31 lần (thấp nhất)
Khu vực xung quanh MĐ-7 (0,5 m và 1,0 m) 0,004 0 (đạt chuẩn) KPH 0 (đạt chuẩn)
MĐ-8 (0,5 m và 1,0 m) 0,004 0 (đạt chuẩn) KPH 0 (đạt chuẩn)

(Ghi chú: KPH: Không phát hiện; quy chuẩn QCVN 15:2008/BTNMT quy định giới hạn tối đa cho phép là 0,01 mg/kg).

Kết quả khảo sát dịch tễ học và nhận thức cộng đồng trên mẫu 50 người dân:

Nhóm chỉ tiêu khảo sát Nội dung cụ thể ghi nhận Số lượng người Tỷ lệ (%)
Nhận thức về HCBVTV Hiểu biết về tác hại của hóa chất BVTV 50 100%
Hiểu biết về tác dụng của hóa chất BVTV 45 90%
Có kiến thức bảo vệ thân thể khi tiếp xúc 28 56%
Từng được hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật an toàn 6 12%
Triệu chứng do tiếp xúc kéo dài Đau đầu thường xuyên 36 72%
Hoa mắt, chóng mặt 35 70%
Mất ngủ 10 20%
Run tay khi làm việc 5 10%
Hay quên suy giảm trí nhớ 2 4%
Bệnh lý ghi nhận phơi nhiễm Mắc bệnh lý về gan 14 28%
Mắc các bệnh ung thư 6 12%
Thiểu năng trí tuệ 5 10%
Rối loạn thần kinh 3 6%
Ghi nhận trường hợp sảy thai 2 4%

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Về công nghệ xử lý: Đề xuất ưu tiên lựa chọn công nghệ xử lý tổng hợp phân hủy sinh - hóa học kết hợp cô lập tại chỗ (mô hình của Viện Khoa học & Kỹ thuật Hạt nhân và Đại học Mỏ - Địa chất). Quy trình gồm: xây bể cô lập bằng vật liệu chịu hóa chất trên nền địa tầng đất sét; phân hủy kỵ khí bằng tác nhân hóa - sinh; trồng các loài thực vật có sinh khối phát triển nhanh như cỏ vetiver và keo lá tràm; bổ sung rơm rạ, lá mục để tăng cường mùn cố định hóa chất không cho thấm xuống tầng nước ngầm. Công nghệ này từng triển khai thành công tại Ninh Khánh (Ninh Bình) và Trung Môn (Tuyên Quang), phù hợp khả năng chi trả kinh tế của địa phương.
  • Về quản lý: Yêu cầu chính quyền địa phương cắm mốc cảnh báo nguy hiểm, đình chỉ các hoạt động sản xuất gạch và đào bới san gạt đất tại khu vực ô nhiễm; tổ chức các chương trình tập huấn vệ sinh an toàn lao động và hỗ trợ y tế kiểm tra sức khỏe định kỳ cho nhân dân xóm Na Long.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm quan trắc thổ nhưỡng đầu tiên đối với điểm tồn lưu kho thuốc BVTV xã Hóa Trung sau hơn 20 năm giải tỏa. Công trình đã khoanh vùng chính xác 2 trọng điểm ô nhiễm nghiêm trọng (nền kho cũ 90 m² và bãi đổ đất san ủi 50 m²), đồng thời thiết lập mối liên hệ thực tế giữa nồng độ chất độc tồn lưu với các vấn đề sức khỏe cộng đồng tại chỗ.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Khảo sát thực địa chỉ mới tập trung lấy mẫu đất ở hai tầng nông (độ sâu 0,5 m và 1,0 m), chưa tiến hành khoan lấy mẫu ở các tầng sâu hơn để đánh giá sự dịch chuyển chất ô nhiễm theo chiều dọc xuống tầng ngậm nước ngầm.
    • Chưa thực hiện lấy mẫu phân tích nồng độ hóa chất trong các giếng đào sinh hoạt của các hộ dân nằm liền kề kho thuốc.
    • Mẫu điều tra dịch tễ dừng lại ở quy mô khảo sát xã hội học định tính qua bảng hỏi trên 50 người dân, chưa có điều kiện phối hợp xét nghiệm lâm sàng, cận lâm sàng hoặc đo tải lượng chất độc trong máu và mô mỡ của người phơi nhiễm.
    • Vấn đề kiểm soát phát thải khí thứ cấp (như dioxin và furan) trong giải pháp đốt bằng lò nung clinker xi măng hoặc lò đốt di động chưa được kiểm chứng thực nghiệm tại hiện trường địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng nước ngầm và trầm tích thủy vực xung quanh xóm Na Long.
    • Thực hiện các nghiên cứu y tế chuyên sâu theo dõi dịch tễ học dài hạn đối với các hộ dân sinh sống cạnh các điểm kho hóa chất đã san lấp trên toàn huyện Đồng Hỷ.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Nông hóa - Thổ nhưỡng và Công nghệ Xử lý Môi trường:

  • Quy trình thiết kế mạng lưới lấy mẫu: Cung cấp phương pháp bố trí điểm quan trắc, mã hóa mẫu đất theo từng tầng phát sinh (nền kho gốc, bãi đổ đất dịch chuyển và khu vực đối chứng xung quanh) tại các điểm nóng hóa chất tồn dư lịch sử.
  • Tài liệu tham khảo chuyên khảo: Phần tổng quan tài liệu cung cấp danh mục hệ thống 18 điểm kho lưu trữ HCBVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên kèm tọa độ hành chính và hiện trạng mặt bằng, giúp các nhà quản lý tài nguyên môi trường cấp tỉnh và huyện làm căn cứ xây dựng kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường theo Quyết định 1946/QĐ-TTg.
  • Phương pháp tích hợp: Cung cấp mẫu đối chiếu kết hợp giữa số liệu hóa nghiệm môi trường vật lý với số liệu dịch tễ xã hội học cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Kho hóa chất bảo vệ thực vật tại xã Hóa Trung hoạt động trong giai đoạn nào và hiện trạng mặt bằng khi nghiên cứu ra sao?

Kho thuộc Trạm Vật tư nông nghiệp huyện Đồng Hỷ, nằm tại xóm Na Long, xã Hóa Trung, hoạt động từ những năm 1980 và chính thức đóng cửa vào năm 1992. Tại thời điểm nghiên cứu năm 2014, khu vực này thuộc quyền sử dụng của hộ ông Phạm Văn Tứ. Toàn bộ kho cũ đã bị phá bỏ, các thùng phuy chứa hóa chất được chôn cách nền cũ khoảng 3 m; mặt bằng được san lấp để làm nhà máy đóng gạch nhẹ. Điểm ô nhiễm gồm nền kho cũ (khoảng 90 m²), bãi đổ đất san nền kho cũ (khoảng 50 m²) và khu vực dư lượng xung quanh.

2. Mức độ ô nhiễm DDT và Lindan trong đất nền kho cũ và bãi đổ đất san nền vượt quy chuẩn bao nhiêu lần?

So với giới hạn tối đa cho phép của QCVN 15:2008/BTNMT:

  • Tại nền kho cũ: Hàm lượng DDT vượt từ 203 lần (tại độ sâu 1,0 m) đến 979 lần (tại độ sâu 0,5 m); hàm lượng Lindan vượt từ 61 lần (tại độ sâu 1,0 m) đến 149 lần (tại độ sâu 0,5 m).
  • Tại bãi đổ đất san nền: Hàm lượng DDT vượt từ trên 100 lần đến 421,8 lần (đo được tại độ sâu 1,0 m); hàm lượng Lindan vượt từ 31 lần đến 121 lần (tại độ sâu 0,5 m).

3. Chất ô nhiễm có bị phát tán ra môi trường đất xung quanh khu vực kho cũ hay không?

Dựa trên kết quả phân tích 4 mẫu đất lấy tại 2 vị trí xung quanh khu ô nhiễm (MĐ-7 và MĐ-8 ở độ sâu 0,5 m và 1,0 m), hàm lượng DDT chỉ đạt mức 0,004 mg/kg (thấp hơn ngưỡng cho phép của QCVN 15:2008/BTNMT), trong khi hàm lượng Lindan không phát hiện (KPH). Điều này cho thấy chất độc chưa lan truyền mạnh theo phương ngang ở tầng đất khảo sát ra khu vực đất sản xuất lân cận.

4. Kết quả khảo sát sức khỏe của 50 người dân xóm Na Long ghi nhận những bệnh lý và triệu chứng nào cao nhất?

Về triệu chứng tiếp xúc lâu dài: 72% người dân bị đau đầu thường xuyên, 70% bị hoa mắt chóng mặt và 20% bị mất ngủ. Về bệnh lý mãn tính liên quan đến phơi nhiễm: tỷ lệ mắc bệnh gan chiếm 28%, bệnh ung thư chiếm 12%, thiểu năng trí tuệ chiếm 10%, bệnh thần kinh chiếm 6% và sảy thai chiếm 4%. Đã ghi nhận các trường hợp tử vong do ung thư như ông Nguyễn Văn Chức (người trông coi kho thuốc cũ) và bà Nguyễn Thị Thường (sống và làm vườn cạnh nền kho).

5. Tác giả đề xuất lựa chọn giải pháp kỹ thuật nào để khắc phục ô nhiễm tại điểm kho xóm Na Long?

Tác giả đề xuất áp dụng giải pháp công nghệ tổng hợp: xử lý hóa - sinh kết hợp cô lập tại chỗ trong bể chuyên dụng xây dựng trên nền địa tầng đất sét kỵ nước, sau đó phủ bề mặt bằng rơm rạ, mùn hữu cơ và trồng các loài thực vật có khả năng hấp thụ, cố định chất độc như cỏ vetiver và keo lá tràm. Giải pháp này đảm bảo tính khả thi về kinh tế kỹ thuật tại địa phương, giảm thiểu rủi ro phát tán chất độc trong quá trình đóng gói vận chuyển đường dài so với phương án đưa đi đốt tại nhà máy xi măng Holcim Hà Tiên.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thế Đàn đã phản ánh toàn diện thực trạng ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật nhóm clo hữu cơ tồn lưu nghiêm trọng tại kho vật tư nông nghiệp cũ xóm Na Long, xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ. Thông qua 16 mẫu đất quan trắc, nghiên cứu đã chứng minh hàm lượng DDT và Lindan tại nền kho cũ và bãi đổ đất san gạt vượt QCVN 15:2008/BTNMT từ hàng chục đến gần một nghìn lần, tạo áp lực tiêu cực rõ rệt lên sức khỏe cộng đồng địa phương với tỷ lệ mắc bệnh gan và ung thư ở mức cao. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất định hướng xử lý khả thi bằng công nghệ cô lập kỵ khí kết hợp phục hồi sinh thái thực vật tại chỗ, đóng góp dữ liệu thực nghiệm quan trọng cho công tác quản lý và xử lý các điểm nóng môi trường trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.