Đặt vấn đề Theo xu hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tỷ trọng của nông nghiệp trong nên kinh tế bị sụt giảm trong những năm gan đây. Tuy nhiên, nông nghiệp van là thành phần quan trọng trong cơ cấu kinh tế. Không chỉ bởi vì Việt Nam là một nước nông nghiệp mà còn vì những đóng góp thiết thực của nông nghiệp trong kinh tế, xã hội và môi trường. Với điều kiện thuận lợi, tiềm năng cũng như lợi thế về rừng, vườn rừng và một số loại cây ăn quả, những năm gan đây, nghé nuôi ong lay mật ở nước ta đã và đang phát triển nhanh chóng về cả chất lượng và số lượng.
Nghề nuôi ong mật đã có từ lâu đời ở nước ta bởi những ưu điểm như ít tốn diện tích, vốn đầu tư ban đầu không lón, không cần nhiều nhân lực. Không những mang lại hiệu quả kinh tế cao, mà còn là nghề góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, đem lại lợi ích cho cây trồng. Theo Cục Chăn nuôi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2015, ước tính nước ta hiện có 1,5 triệu đàn ong; trong đó 350.000 đàn ong nội, chiếm (23,33 %), 1.000 đàn ong ngoại, chiếm (76,67 %). Đồng thời theo số liệu thống kê của báo nông nghiệp Việt Nam năm 2018, Nguyễn Thanh Sơn - Viện trưởng Viện Chăn nuôi cho biết: Hàng năm, Việt Nam sản xuất được hơn 55.000 tan mật ong và hơn 1.000 tan sáp ong; trong đó có khoảng 85 — 90 % sản lượng mật và sáp ong được xuất khâu.
Giá trị của ong mật còn thé hiện ở các sản phâm khác như keo ong, sữa ong chúa và nọc ong. Theo thông tin từ trang Amazon, noc ong thô có thé bán với giá 300 đô (năm 2020) tương đương gan 7 triệu VND cho 1 gram, và khi đưa ra thị trường thành các sản phẩm như thuốc, thực phẩm chức năng, hay các loại mỹ phẩm giá trị không ngừng tăng. Nọc ong (Apitoxin) là sản phẩm có trong tuyến của cơ thể con ong mật và được chúng tiết ra thông qua ngòi dé chống lại kẻ thù mỗi khi bi đe dọa. Hệ thống noc độc bao gồm 6 chứa noc độc, ống dẫn nọc độc và các tuyến noc độc (Reumont và ctv, 2022).
Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới và trong nước về việc ứng dụng nọc ong trong quá trình điều trị bệnh. Trong y học cổ truyền, noc ong có vi chat, dang, trung tính va có độc thường dùng dé xua gió, trừ âm, giảm dau, hen xuyén, mé day, giúp bổ gan và thông kinh lạc. Trong nghiên cứu hiện đại nọc ong là một hỗn hợp không đồng nhất và đa dạng của các hợp chất. Thành phần của nó chủ yếu bao gồm protein và enzym chiếm hơn 60 %, đường và phospholipid, mỗi loại bao gồm khoảng 3 % trọng lượng khô (Lebel và ctv, 2021).
Thông qua đó khẳng định nọc ong còn có tác dụng chữa trị một số căn bệnh khác như xơ cứng khớp, viêm khớp, ung thư, cao huyết áp, cai nghiện thuốc lá, ma tuý, làm đẹp da, chống lão hóa,. Với mong muốn tối ưu các sản phâm từ ong mật, kết hợp nuôi ong lay mật và thu nọc giúp tăng giá trị kinh tế cũng như thu nhập của người nuôi ong, chúng tôi thực hiện dé tài “Đánh giá ảnh hưởng của việc thu noc ong (Apitoxin) đến sự tăng trưởng của đàn ong mật Châu Âu Apis mellifera”. Mục tiêu đề tài Đánh giá ảnh hưởng của việc thu nọc ong (Apitoxin) đến sự tăng trưởng của đàn ong mật Châu Âu Apis mellifera thông qua sự biến động số lượng ong, khối lượng trung bình và cơ cấu thành phần các ô trong cầu ong. Nội dung thực hiện Đề đạt được nội dung nghiên cứu chúng tôi cần thực hiện những nội dung sau: — Nội dung 1.
Quan sát tô ong Apis mellifera, hiểu biết về hoạt động sống cũng như đặc tính của tô ong. Bồ trí thí nghiệm và tiến hành lấy noc ong. So sánh biến động sé lượng ong, khối lượng trung bình và cơ cấu thành phần các ô trong cầu ong. Từ đó đánh giá ảnh hưởng của việc lấy nọc đến ong mật Châu Âu Apis mellifera.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Ong mật Châu Âu Apis mellifera 2. Nguồn gốc Bằng chứng hóa thạch còn thưa thớt nhưng những con ong có lẽ đã xuất hiện trên hành tinh cùng thời gian với các loài thực vật có hoa trong kỷ Phan trắng, 74 - 146 triệu năm trước. Sự tiến hóa của ong có mối liên hệ chặt chẽ với sự thay đổi thức ăn từ côn trùng làm môi thành phấn hoa và mật hoa thu được từ các loài thực vật hạt kín.
Ong mật phát triển các hình thái đặc biệt dé thu thập phan hoa và mật hoa như, giỏ phan hoa, lưỡi dai hơn và các đàn dé dự trữ nguồn cung cấp (Gupta, 2014). Tất cả động vật, bao gồm cả ong, đều là Eukaryota (Arias và Sheppard, 2005). Trên toàn cầu có khoảng 25.000 loài ong được đặt tên, với tổng số ước tính khoảng 40.000 loài đang tồn tại. Việc phân loại không chi dựa trên sự khác biệt về đặc điểm vật lý giữa các loài phụ và sự phân bố địa lý hiện tại của chúng, mà còn cả bằng chứng địa chat chỉ ra nguồn gốc của chúng cũng như quá trình tiến hóa và phân bố tiếp theo của chúng (Gupta, 2014).
Cho đến nay, mười loài ong mật thuộc chi Apis đã được công nhận (Engel 1999). Phân tích trên DNA, và các dau hiệu ty thé (mtDNA) hỗ trợ mạnh mẽ cho việc phân cum chúng thành ba nhóm riêng biệt: ong làm tổ trong khoang (A. nulensis), ong không lồ (A. nigrocincta), và ong lùn (A.
Trong số đó, chi có A. cerana đã được “thuần hóa” trong một thời gian dải (Engel 1999; Arias và Sheppard 2005). Chưa thé ước tính được Apis mellifera lần đầu tiên xuất hiện trên Trái Dat khi nao. Tuy nhiên, người ta cho rằng cả A.
cerana đều phải có những đặc điểm nhận dạng riêng biệt trong phan sau của Kỷ nguyên thứ ba (Arias, 1996). Trong khi nguồn sốc của ong mật phương Đông được phát triển rõ ràng ở Châu A, A. mellifera thường được cho là phát sinh ở Châu Á và mở rộng sang Châu Âu và Châu Phi (Han và ctv, 2012). Ong mật phương Tây (Châu Âu) “Mellifera” là từ tiếng Latinh, và có nghĩa là mang mật - do đó “Apis mellifera” là loài ong mang mật, cái tên được đặt ra vào năm 1758 bởi Carolus Linnaeus.
Ong mật Châu Âu (Apis mellifera) có ít nhất 29 loài phụ đã được phân định trên cơ sở đối xứng hình thái (Gupta, 2014). Các loài phụ này đã được phát hiện có các đặc điểm về hành vi cụ thé (Arias, 1996). Ong mật Châu Au (Apis mellifera). Ong mật Châu Âu là loài côn trùng thứ ba được lập bản đồ bộ gen.
Bộ gen không bình thường là có rất ít chuyển vi. Theo các nha khoa học đã phân tích mã di truyền của nó. Ong mật có nguồn gốc từ Châu Phi và lan sang Châu Âu trong hai cuộc di cư cổ đại. Họ cũng đã phát hiện ra rằng sô lượng gen ở ong mật liên quan đến khứu giác nhiều hơn số lượng gen liên quan đến vị giác.
Sau 4 năm làm việc của hàng trăm nhà khoa học, quá trình giải trình tự bộ gen 236 triệu base của loài Ong mật Châu Au Apis mellifera đã được hoàn thành vào năm 2006. Đây là loài côn trùng thứ nhất đã được xác định trình tự cho đến nay, và đã có hơn 10.000 gen do đó hành vi xã hội và sinh lý học đã được xác định (Courtney va ctv, 2021; Gupta, 2014). Dac diém cau tao Ong mật sử dung mật như một nguồn thức ăn dự trữ trong những tháng mùa đông. Ong mật Châu Âu là loài ong có kích thước trung bình (dài ~ ; inch) và có thân mau nâu với các dai lông màu nhạt ở bung (Patrick Liesch , 2016).
Theo Nguyễn Hữu Trực (2020). Trong một đàn có ong chúa, ong đực và ong thợ. — Ong chúa có thân dai 20 — 25 mm. Cánh ngắn, kim châm ngắn.
Ong chúa là mẹ của hầu hết những con ong trong tô. — Ong đực có thân dai 15 — 17 mm. Không có ngòi châm, cánh lớn. Ong đực chỉ có một tác dụng là giao phối với ong chúa.
— Ong thợ có thân dai khoảng 12 mm là những con ong cái mà bộ phận sinh dục bị thoái hoá, không có khả năng thụ tinh. Ong thợ thực hiện tat cả công việc của đàn ong: bảo vệ tô, sản sinh sữa chúa dé nuôi ấu trùng, hút mật hoa luyện thành mật ong. Haim dướa Ầ tuyển SP nod: đốt Vòi (Lưới) Cơ thé ong, giống như các loài côn trùng khác, có thé chia làm 3 phan: đầu, ngực, bụng. Phần bụng có một bao tử đặc biệt dùng để chứa mật hoa (Courtney và ctv, 2021).
— Phan dau Được cấu tạo từ 4 bộ phận nhỏ: chân trước, ham to, hàm nhỏ, môi dưới (Nguyễn Duy Hoan, 2008; Courtney và ctv, 2021). Phần môi dưới là do một đôi hàm nhỏ kết hop lại mà thành. Hàm to và môi dưới kết hợp lại thành miệng. Ong hút mật bằng lưỡi và chuyền xuống dưới bụng qua đường miệng, nó được sử dụng ngược lại khi về tổ nha mật ra nuôi các con ong khác.
Hai chân phía trước của ong dùng dé ngửi và cảm giác. Ong có 5 con mắt, gồm có một đôi mắt chính to với hàng ngàn tròng, nằm ở hai góc chêch ngay hai bên mặt. Giữa hai mắt này có 3 mắt nhỏ nằm theo hình tam giác. Mắt chính dùng dé quan sát các động tĩnh, tìm hoa, hướng bay và phân biệt mau sắc các loài hoa (Nguyễn Duy Hoan, 2008).
— Phan ngực Ong có hai đôi cánh, cánh trước dày va to hơn. Đôi cánh ở hai bên góc do các móc nhỏ liên kết tạo thành. Cánh ong rất phù hợp cho việc bay xa và nhanh ong mật vỗ cánh khoảng 200 lần/giây. Một con ong có thể bay quảng đường dải tới 10 km với vận tốc 25 km/giờ (Olga Frunze, 2022).
Ngoài ra, phần ngực còn có 3 đôi chân đặc biệt. Mỗi chân có năm khớp, cộng thêm những khúc nhỏ tạo thành bàn chân. Ong thợ dùng những đôi chân này dé lau sạch các phan hoa trên người và cầm giữ chat sáp. Bề ngoài của cặp chân sau có một vùng phang chung quanh là những sợi lông dài và cong.
Vùng phang này được gọi là giỏ phan, dùng dé mang những phan hoa về (Nguyễn Duy Hoan, 2008). Khi con ong thợ bay về tổ, chúng đặt cặp chân sau này vao trong 6 lục giác và phủi phân hoa vào đây, một con ong thợ khác sẽ dùng đầu đề ủi những phan hoa này xuống dưới đáy 6 (Courtney và ctv, 2021).