Chương 1: Cơ sở lý thuyết và những vấn đề hữu quan 1. Thành ngữ so sánh 1. Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt 1. Khái niệm Thành ngữ - đơn vị tương đương với từ - là một hiện tượng phổ biến trong bất cứ ngôn ngữ nào.Việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt cũng đã thu hút rất nhiều nhà Việt ngữ học.
Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học” (1996): “Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu” [80, tr. Mai Ngọc Chừ thì cho rằng “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc/và gợi cảm” [11, tr. Như vậy có thể xem thành ngữ là những cụm từ cố định, có chức năng gọi tên sự vật, phản ánh hiện tượng một cách giàu hình ảnh.
Theo Mai Ngọc Chừ, thành ngữ tiếng Việt bao gồm thành ngữ so sánh và thành ngữ miêu tả ẩn dụ. Hoàng Văn Hành phân loại thành ngữ cụ thể hơn: thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng, thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng, thành ngữ so sánh. Chung quy lại, thành ngữ so sánh được xem là một bộ phận cấu thành nên thành ngữ tiếng Việt. Theo Mai Ngọc Chừ, thành ngữ so sánh là “những thành ngữ có cấu trúc là một cấu trúc so sánh.
Ví dụ: lạnh như tiền, rách như tổ đỉa, cưới không bằng lại mặt,. Thành ngữ so sánh được Hoàng Văn Hành trong “Thành ngữ học Tiếng Việt” định nghĩa: “là một tổ hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so sánh, với nghĩa biểu trưng, kiểu rách như tổ đỉa, khỏe như vâm, như cá nằm trên thớt, nhảy như choi choi,… [30, tr. Như vậy, thành ngữ so sánh là một cụm từ có tính cố định, hàm chứa một kết cấu so sánh giàu hình ảnh biểu trưng. Phân loại Thành ngữ so sánh là một cấu trúc so sánh.
Ví dụ: đẹp như tranh vẽ, ăn như hổ, như nước đổ đầu vịt,. Mô hình tổng quát của thành ngữ so sánh giống như cấu trúc so sánh thông thường khác: A ss B: trong đó A là vế được so sánh (chúng tôi tạm gọi là đối tượng được so sánh), B là vế đưa ra để so sánh (chúng tôi tạm gọi là đối tượng so sánh), còn ss là từ so sánh: như, bằng,hơn, tựa, hệt, tày,. Tuy nhiên, sự xuất hiện của thành ngữ so sánh trong thực tế tiếng Việt lại khá đa dạng, trong nhiều trường hợp nó không đủ ba thành phần như mô hình tổng quát trên. Mai Ngọc Chừ trong “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt”(1997) [11, tr.
153–165] đã phân thành ngữ so sánh ra các dạng phổ biến sau: *A.B: Đây là dạng đầy đủ của thành ngữ so sánh. Ví dụ: đắt như tôm tươi, nhẹ tựa lông hồng, lạnh như tiền, dai như đỉa đói, đủng đỉnh như chĩnh trôi sông, lừ đừ như ông từ vào đền,.B: Ở kiểu này, thành phần A của thành ngữ so sánh có thể xuất hiện hoặc không, nhưng nghĩa vẫn không thay đổi, người ta vẫn lĩnh hội ý nghĩa của thành ngữ ở dạng toàn vẹn. Ví dụ: (rẻ) như bèo, (chắc) như đinh đóng cột, (vui) như mở cờ trong bụng, (to) như bồ tuột cạp, (khinh) như rác, (khinh) như mẻ, (chậm) như rùa,.B: Ở dạng này, thành phần A không nằm trong cấu trúc của thành ngữ. Khi đi vào hoạt động trong câu nói, thành ngữ kiểu này sẽ được nối thêm với A một cách tuỳ nghi, phụ thuộc vào tình huống giao tiếp, nhưng nhất thiết phải có.
A là của câu nói và nằm ngoài thành ngữ. Ví dụ: Ta có thành ngữ “như mẹ chồng với nàng dâu”, tuỳ tình huống mà có A khác nhau, chẳng hạn: ăn ở với nhau như mẹ chồng với nàng dâu, xử sự với nhau như mẹ chồng với nàng dâu, giữ ý giữ tứ với nhau như mẹ chồng với nàng dâu,… Có thể kể ra một số thành ngữ kiểu này như: như tằm ăn rỗi, như vịt nghe sấm, như con chó ba tiền, như gà mắc tóc, như đỉa phải vôi, như ngậm hột thị,. Đặc điểm thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ Trong thành ngữ so sánh, vế A có thể là tính từ chỉ thuộc tính, đặc trưng, tính cách, tâm trạng,… (trắng như tuyết, bẩn như ma lem, nhát như thỏ đế, chậm như rùa, hiền như bụt, lừ đừ như ông từ vào đền,…), hoặc là động từ biểu thị các trạng thái hoạt động (ăn như mèo, nói như đấm vào tai, kêu như cháy nhà,…), hoặc cũng có thể là danh từ chỉ sự vật, hiện tượng được so sánh (chấy rận như sung, kẻ cắp như rươi, quân lệnh như sơn,.), thậm chí có thể là cụm chủ- vị thể hiện một hiện tượng xã hội, tâm lý (quan thấy kiện như kiến thấy mỡ, gái gần hơi trai như thài lài gặp cứt chó,. Như vậy, thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ là những thành ngữ có cấu trúc “A ss B”, mà trong đó “A” là tính từ chỉ thuộc tính, đặc điểm, tính cách, tâm trạng,… của con người hay sự vật.
Thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ cũng mang những đặc điểm của thành ngữ so sánh nói chung. Trong thành ngữ so sánh, thành phần biểu thị quan hệ so sánh (ss) và đối tượng so sánh (vế B) là bộ phận bắt buộc và ổn định trên cấu trúc bề mặt cũng như cấu trúc sâu. Nếu phá vỡ cấu trúc so sánh này thì sẽ không còn thành ngữ so sánh nữa. Sự lựa chọn từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh và đối tượng so sánh mang tính dân tộc sâu sắc (Vấn đề này cũng là nội dung trọng tâm của luận văn, sẽ được làm rõ ở những phần tiếp theo).
Vế A (vế được so sánh hay đối tượng được so sánh) trong thành ngữ so sánh là vế bắt buộc trong cấu trúc sâu, nhưng không nhất thiết phải xuất hiện trên cấu trúc bề mặt như ở thành ngữ so sánh có cấu trúc “như B”. Điều này cho thấy khả năng ẩn hiện rất linh hoạt của A trong thành ngữ so sánh tiếng Việt. Riêng trong thành ngữ so sánh có yếu tố tính từ, chúng tôi chỉ xét đến trường hợp vế “A” xuất hiện trên bề mặt cấu trúc. Từ so sánh trong thành ngữ so sánh tiếng Việt phổ biến là từ như; ngoài ra còn những từ so sánh khác, chẳng hạn: tựa, tựa như, như thể, bằng, tày, hơn,.
( ví dụ: gương tày liếp, coi trời bằng vung, tội tày đình, cưới không bằng lại mặt,.) nhưng những thành ngữ dùng các từ so sánh này rất hiếm. Từ so sánh phổ biến trong thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ cũng là từ “như”, rất ít khi gặp các trường hợp như: bé bằng con kiến, quý hơn vàng,. Trong một vài trường hợp, từ so sánh có thể lược bỏ đi mà nghĩa của phát ngôn không phương hại gì. Chính khả năng tiềm ẩn này là tiền đề cho quá trình chuyển hóa thành ngữ so sánh thành những tổ hợp ẩn dụ hóa.
Hoàng Văn Hành đã đưa ra vài ví dụ cho trường hợp này: lặng tờ (lặng như tờ), lặng cá (lặng như cá), đen thui (đen như thui), bé hạt tiêu (bé như hạt tiêu),. Ông còn cho rằng: “việc chuyển hóa thành ngữ so sánh sang từ có nghĩa ẩn dụ cũng là một quá trình biến đổi ngữ nghĩa có tính quy luật” [30 , tr. Vế B (đối tượng so sánh) luôn luôn hiện diện, một mặt để thuyết minh, làm rõ cho A, mặt khác, các sự vật, hiện tượng, trạng thái,. được nêu ở B phản ánh khá rõ nét những dấu ấn về đời sống văn hoá vật chất và tinh thần của dân tộc Việt.
Đối chiếu với thành ngữ so sánh của các ngôn ngữ khác, ta dễ thấy sắc thái dân tộc của mỗi ngôn ngữ được thể hiện một phần ở đó. Điều này cắt nghĩa tại sao ít có sự tương đương hoàn toàn giữa các thành ngữ so sánh (cũng như thành ngữ nói chung) ở hai ngôn ngữ. Có khi cách biểu hiện có sự tương đồng về hình ảnh, nhưng giá trị về nội dung lại rất khác nhau. Chẳng hạn, cùng là nóng như lửa, nhưng trong tiếng Việt thì nói về tính tình, còn trong tiếng Anh as hot as fire lại nói về nhiệt độ.
Vế B trong thành ngữ so sánh nói chung và thành ngữ so sánh chứa yếu tố tính từ nói riêng có cấu trúc không thuần nhất: -B có thể là một danh từ (hoặc cụm danh từ). Ví dụ: nhát như thỏ, nóng như lửa, lạnh như tiền, nợ như chúa Chổm, đắng như bồ hòn, len lét như rắn mùng năm,. -B có thể là một động từ (hoặc cụm động). Ví dụ: giống như in, nóng như đốt, dễ như trở bàn tay, nóng như hơ lửa,… -B có thể là một cụm chủ- vị (một mệnh đề).
Ví dụ: lừ đừ như ông từ vào đền, vênh váo như bố vợ phải đấm, sợ như đĩ thấy cha, tất tưởi như nợ đuổi sau lưng,. Nếu cấu trúc so sánh thông thường rất đa dạng thì thành ngữ so sánh ít biến dạng hơn. Lí do chính ở chỗ thành ngữ so sánh là cụm từ cố định, chúng phải chặt chẽ và bền vững về mặt cấu trúc và ý nghĩa. Thành ngữ so sánh trong tiếng Anh (simile) 1.
Khái niệm Loại ngữ cố định tiếng Anh có kết cấu và chức năng tương đương với thành ngữ so sánh tiếng Việt được gọi là “simile”. Chúng tôi tạm gọi “simile” là thành ngữ so sánh tiếng Anh. Trong ngôn ngữ học Anh-Mỹ, vẫn còn quan điểm chưa thống nhất về simile và idiom (thành ngữ). Bên cạnh quan điểm của nhiều nhà ngôn ngữ học cho simile là một bộ phận đặc biệt của idiom, có quan điểm khác cho hai khái niệm này không bao hàm nhau, simile là một dạng lời nói giàu hình ảnh, mang nét riêng về cấu tạo cũng như chức năng, tồn tại độc lập bên cạnh idiom (thành ngữ) hay metaphor (ẩn dụ).
Do đó nhiều người Anh-Mỹ có sự phân biệt khá rõ ràng về simile (tạm gọi là thành ngữ so sánh) và idiom (thành ngữ). McMordie trong “English idioms” đưa ra định nghĩa về idiom (thành ngữ): “là một nhóm từ mà khi kết hợp với nhau sẽ có nghĩa khác với nghĩa của từng từ” (a number of words which, when taken together, have a different meaning from the individual meanings of each word) [87, tr.