Chương I: Chủ nghĩa hiện thực và tiểu thuyết 10 1. Quan niệm về chủ nghĩa hiện thực 10 1.Sự hình thành chủ nghĩa hiện thực ở Việt Nam 19 1.Một số hiện tượng tiêu biểu trong tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa Việt Nam buổi đầu hình thành và phát triển (Từ cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX) 23 1.1Chủ nghĩa hiện thực trong tiểu thuyết Đoạn trường tân thanh của Nguyễn Du.Chủ nghĩa hiện thực trong tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia văn phái .Chủ nghĩa hiện thực và sự ra đời của tiểu thuyết. 31 Chương II: Đặc trưng thẩm mỹ cơ bản của tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa 41 2. Tiểu thuyết là gì ? 41 2.
Đặc trưng thẩm mỹ cơ bản của tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa. 44 Tiểu thuyết là thể loại văn học gần gũi nhất với đời sống, có thể bao quát hiện thực trên quy mô rộng lớn và toàn vẹn.Cuộcsống trong tiểu thuyết bao giờ cũng là cuộc sống toàn diện,phong phú và nhiều mặt. Tiểu thuyết gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của quần chúng nên nó là một trong những thể loại dân chủ nhất của văn học. Trong tiểu thuyết, các tính cách nhân vật có sự phát triển tự thân như trong đời thật.
59 Chương III: Ảnh hưởng quyết định của đặc trưng thẩm mỹ cơ bản đối với các đặc trưng thẩm mỹ khác trong tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa.Tiểuthuyết là thể loại có bản chất tổng hợp, nhiều phong cách và thanh điệu. Ảnh hưởng của âm nhạc. Ảnh hưởng của điện ảnh. Tính văn xuôi của tiểu thuyết.Tính văn xuôi của tiểu thuyết được thể hiện ở cuộc sống bình thường hàng ngày trong sự pha trộn, đan chéo và chuyển hoá lẫn nhau của các sắc thái thẩm mỹ.Tính văn xuôi của tiểu thuyết được thể hiện trong ngôn ngữ gầnnhư trung tính của tiểu thuyết.Tiểu thuyết là thể loại có dung lượng lớn.
Sự khác nhau giữa tiểu thuyếtvà truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch. 83 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC VÀ TIỂU THUYẾT 1.Quan niệm về chủ nghĩa hiện thực. Nghệ thuật, trong hành trình tồn tại của mình luôn làm tròn thiên chức cao cả là phản ánh một cách chân thực sự vận động của lịch sử, sự phát triển của xã hội và những diễn biến phức tạp trong thế giới nội tâm con người. Đặc tính quý giá này của nghệ thuật cho phép ta tìm thấy ở nó một cuốn biên niên vĩ đại, một thứ ký ức đặc biệt của nhân loại, đó là lịch sử được tái hiện bằng ngôn từ (43/82).
Với những khả năng đặc biệt nghệ thuật đã ghi lại những biến cố trong đời sống vật chất và tinh thần của các nền văn minh cổ xưa đầy đủ hơn, nguyên vẹn hơn những văn bản lịch sử đã cũ nát hay những di chỉ văn hoá vật chất còn lại cho đến ngày nay của nhân loại. Bộ sử thi vĩ đại Illiade, Odyssée của Homère đã cho ta hiểu về cuộc sống chiến đấu đầy mưu trí và dũng cảm của người Hy Lạp xưa cách đây mấy mươi thế kỷ. Sự sụp đổ của lý tưởng nhân văn thời kỳ Phục Hưng trong sự nảy sinh chế độ tư bản đã in đậm trong Don Quichotte của Cervantès hay những vở bi kịch của Shakespeare .Cuộc sống đầy biến động và đau thương dưới chế độ phong kiến đang trên đà đi xuống của thế kỷ XVIII đã được Nguyễn Du phản ánh sâu sắc trong Truyện Kiều … Tuy vậy, bộ mặt của thế giới hiện ra trong tác phẩm nghệ thuật không phải là một thứ rập khuôn những gì có sẵn, một sự sao chép máy móc thực tế cuộc sống. Mô tả cuộc sống con người và đời sống xã hội một cách chân thực là yêu cầu chung cho tất cả các nền văn học nghệ thuật chân chính từ xa xưa.
Song điều đó không có nghĩa là nghệ thuật trong mọi thời đại bao giờ cũng là nghệ thuật của chủ nghĩa hiện thực. 10 Chủ nghĩa hiện thực với tư cách là phương pháp sáng tác, một trào lưu nghệ thuật là một hiện tượng phát sinh ở một giai đoạn nhất định trong một hành trình phát triển nhận thức của nhân loại. khuynh hướng vận động ngày càng cao của xã hội giúp con người nhận ra rằng: hành động và tình cảm của mình không phải là hệ quả của những say mê hoặc những ý đồ thần linh mà chúng bị quyết định bởi những nguyên nhân thực tại của cuộc sống. Là một phương pháp sáng tác, chủ nghĩa hiện thực có khả năng miêu tả chân thực cuộc sống chân thực cuộc sống con người và hoàn cảnh xã hội, nơi họ sống và hoạt động theo một quy luật nhất định Chủ nghĩa hiện thực bao hàm một thái độ tích cực của con người đối với cuộc sống, một ý muốn tìm hiểu, nhận thức thế giới y như nó tồn tại, và một ý thức can thiệp vào đời sống xã hội (8/14).
Quan niệm về chủ nghĩa xã hội hiện thực như vậy yêu cầu con người phải đạt tới một trình độ nhận thức nhất định. Điều đó có nghĩa là con người phải có một vốn kinh nghiệm về đời sống tự nhiên, tâm lý xã hội của bản thân mình cùng với những mối quan hệ phức tạp giữa bản thân con người với xã hội thì chủ nghĩa hiện thực mới hình thành trong nghệ thuật. Nghệ thuật Trung Cổ cũng đã mang những yếu tố thực của cuộc sống nhưng chủ nghĩa hiện thực chưa xuất hiện bởi con người còn bị thống trị bởi chế chế độ phong kiến Trung Cổ hà khắc và nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Cái đẹp chân chính trong sự an bài của Chúa, đó là cái đẹp tinh thần, cái đẹp hướng tới lòng tôn kính những đấng siêu nhiên.
Thế kỷ XVI, cùng với sự xuất hiện mầm mống chủ nghĩa tư bản, ý thức hệ phong kiến gần suy sụp về căn bản, ý niệm về cái Tôi cá nhân bắt đầu hình thành. Nghệ thuật phá vỡ quy phạm của nhà thờ, vượt ra ngoài vòng kiêm toả của tôn giáo để miêu tả cuộc sống trần thế. Nguyên tắc tái hiện hiện thực bằng nghệ thuật là tiền đề khách quan cho sự phát sinh chủ nghĩa hiện thực với tư cách là một trào lưu một khuynh hướng, một phương 11 pháp sáng tác độc lập. Có được điều đó, nghệ thuật đã phải đi vào con đường nghiên cứu và mô tả cuộc sống xã hội, những tình cảm của con người trong những mối liên hệ phức tạp, tác động chi phối lẫn nhau và có tính lịch sử của chúng.
Ở Châu Âu, sự hình thành chủ nghĩa hiện thực như một trào lưu nghệ thuật độc lập gắn liền với sự biến đổi to lớn của lịch sử xã hội. Đó là một cuộc cách mạng trong tư tưởng con người, sự xói mòn của cấu trúc các quan hệ xã hội phong kiến đã giải phóng và nâng cao vị trí con người trong xã hội, từ đó thay đổi thế giới quan của con người. Mặc dù hết sức tinh vi, nhưng ý thức Trung Cổ chưa phát hiện được cho cá nhân con người những khả năng tư duy và cảm quan giải phóng. Thoát khỏi hệ thống thế giới quan phong kiến, con người bắt đầu ý thức về những khả năng của mình như là những cá nhân với đời sống nội tại riêng.
Các tác phẩm nghệ thuật Trung Cổ cũng đã sử dụng chất liệu của cuộc sống, nhưng đó chưa được coi là chủ nghĩa hiện thực mà chỉ là những yếu tố hiện thực, tính hiện thực, giá trị hiện thực… chúng được đan quyện với các biểu tượng phi thực tại về thế giới, các yếu tố ước lệ, cách điệu, huyền thoại … phương pháp hiện thực chủ nghĩa bắt đầu hình thành trong nghệ thuật Phục Hưng, một nền nghệ thuật không thuần nhất, phong cách hết sức đa dạng, trong đó nghệ thuật Gôtích kề bên chuyện sinh hoạt và tiếu lâm mà tiêu biểu là những tác phẩm của Pôgiô và Mazaxiô, trong đó sử thi cung đình Trung Cổ biến thành thơ hùng -hài, thành thơ ca hết sức trần tục của Pulchi hoặc trường ca anh hùng hào hoa của Ariôxtô, trong đó chủ nghĩa chủ quan của những người theo chủ nghĩa Platon và nghệ thuật Baroccô thay thế cho những truyền thống thơ xán lạn và hoàn thiện bắt nguồn từ Pêtrarca (43/46). Chủ nghĩa hiện thực được phát sinh cùng với sự xuất hiện của Gargantua và Pantagruel của Rabelais. Đó được xem như tác phẩm mở 12 đầu cho sự xuất hiện chủ nghĩa hiện thực trong buổi bình minh của nó. Mặc dù các nhân vật còn được mô tả theo lối cường điệu quá đáng, các quy phạm của nghệ thuật phong kiến vẫn còn tồn tại, song tác phẩm đã có những phân tích những quan hệ xã hội đương thời.
Xung đột trong tác phẩm là xung đột của xã hội thời hiện tại. Rabelais đã thấy rõ cuộc sống xác thực đang bị bóp méo, thậm chí lý tưởng về một cuộc sống tươi đẹp đang bị phủ định. Với trí tuệ ưu tú và trái tim mẫn cảm Rabelais đã nhìn ra được mâu thuẫn đối kháng đang chứa chất trong lòng xã hội thời kỳ phôi thai của của một chế độ xã hội mới. Xung đột làm thành cốt lõi của Gargantua và Pantagruel được nghệ sĩ rút ra từ môi trường trong đó con người sống và hoạt động, từ kinh nghiệm thực tiễn của nó (43/49).
Một thời gian không lâu sau đó, tiểu thuyết Don Quichotte của Cervantès ra đời đã cung cấp cho ta một bức tranh khá đầy đủ về xã hội Tây Ban Nha và thế kỷ XVII, giai đoạn giao thời giữa thời kỳ Phục Hưng. Xung đột tác phẩm phản ánh tình trạng đầy bi kịch giữa khát vọng vươn tới cái cao cả và lẽ công bằng của con người với một thực tế đầy tính chất văn xuôi của cuộc sống hàng ngày. Cervantès đã chính xác hơn Rabelais rất nhiều về sự nhận địmh và phản ánh xã hội thời đại ông , và do vậy bi kịch giữa lý tưởng nhân văn với thực tế sinh hoạt thị dân được phản ánh sâu sắc hơn, toàn diện hơn. Nếu như Rabelais luôn hy vọng có thể đạt tới sự hài hoà trong cuộc sống, luôn kỳ vọng vào một xã hội tốt đẹp thì Don Quichotte đã ca ngợi sự cao cả của cái thiện, cái đẹp, đồng thời phá vỡ ảo tưởng về khả năng cái thiện sẽ thắng thế trong trật tự thế giới mới của xã hội tư sản đang hình thành.
Sự xuất hiện của Gargantua và Pantagruel và Don Quichotte đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của sự hình thành bước đầu chủ nghĩa hiện thực như một trào lưu nghệ thuật độc lập, một phương pháp sáng tác nghệ thuật mới trong lịch sử nhân loại.