Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu. Chương này xác định những khái niệm cơ bản làm cơ sở lý thuyết cho những nghiên cứu của chúng tôi: lý thuyết giao tiếp, khái niệm về PR (quan hệ công chúng), đối tượng và quá trình hoạt động của nó, đồng thời so sánh PR với quảng cáo – là lĩnh vực liên quan gần nhất và dễ bị nhầm lẫn với hoạt động PR. Chương 2: Các loại hình hoạt động PR ở Việt Nam hiện nay. Chương này phân loại các loại hình hoạt động PR theo các tiêu chí khác nhau và từ đó sẽ là tiền đề để tìm hiểu những nét đặc trưng cho ngôn ngữ PR ở chương tiếp theo.
Chương 3: Một số đặc trưng ngôn ngữ PR. Từ tư liệu là 67 bài viết PR trên báo và kịch bản truyền hình đã thu thập được, chúng tôi tiến hành phân tích những đặc trưng trong cách sử dụng ngôn ngữ PR ở Việt Nam hiện nay ra sao. Việc sử dụng ngôn ngữ PR trên báo in, báo mạng có khác gì so với việc sử dụng ngôn ngữ PR trên truyền hình? Những nhân tố nào chi phối đến việc sử dụng ngôn ngữ đó? Ngôn ngữ trong hoạt động PR có gì giống và khác so với ngôn ngữ quảng cáo? Cùng với đó là những đặc trưng về cấu trúc thông tin, tiêu điểm thông tin PR trong những loại hình hoạt động PR cụ thể ra sao 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và lập luận trong hoạt động PR cũng là những nội dung mà chúng tôi làm sáng tỏ trong chương 3 của luận văn này. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PR là hoạt động hướng đến công chúng, vì những mục đích nhất định, vì thế trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi xem xét PR trên cơ sở của lý thuyết giao tiếp.
Một số vấn đề về lý thuyết giao tiếp Giao tiếp chính là cơ sở của các mối quan hệ giữa người với người. Từ lúc sinh ra cho đến khi kết thúc cuộc đời, con người không thể tồn tại như những cá thể riêng biệt mà luôn là một thành phần của gia đình, tổ chức, xã hội… Chúng ta cần sự hiểu biết, chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ, cộng tác của những người xung quanh về cả vật chất lẫn tinh thần để có thể tồn tại, phát triển và thành đạt. Để xây dựng, duy trì và phát triển những mối quan hệ này, chúng ta phải dựa vào các hoạt động giao tiếp. Giao tiếp bao gồm các hoạt động trao đổi thông tin giúp con người chia sẻ với nhau những suy nghĩ, tình cảm, hiểu biết, kinh nghiệm, vốn sống, tri thức… để tạo nên sự hiểu biết, thúc đẩy sự hợp tác với nhau, từ đó đạt thành công trong công việc và cuộc sống.
Hoạt động giao tiếp diễn ra kh p nơi và liên tục, chiếm phần lớn thời gian và hoạt động của chúng ta. Nói tóm lại, giao tiếp là một hoạt động cơ bản và cần thiết, một trong những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống con người, g n liền với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Giao tiếp là gì? Hoạt động giao tiếp của con người đã được các nhà khoa học, triết học… nghiên cứu từ rất lâu trong lịch sử. Các định nghĩa được các nhà 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu đưa ra đều khẳng định giao tiếp là một quá trình tương tác hoặc xuyên tác, tuy nhiên, các định nghĩa này thường có các độ nhấn khác nhau vào các yếu tố khác nhau.
Nguyễn Quang, trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp đại học quốc gia (đặc biệt) Giao tiếp phi ngôn từ giao văn hóa – những vấn đề cơ bản, 2008 đã giới thiệu một số định nghĩa tham khảo về giao tiếp như sau: - “Giao tiếp hàm chỉ quá trình người ta phản hồi lại hành vi tượng trưng trực diện của những người khác”. (Alder & Rodman, 1998) - “Giao tiếp là sự truyền tải từ người này đến người khác một thông điệp được người nhận hiểu theo đúng ý của người gửi”. (Beisler et al., 1997) - “Giao tiếp là quá trình chia sẻ ý nghĩa thông qua hành vi ngôn từ và phi ngôn từ” (Levine và Adelman, 1993) - “Giao tiếp là bất cứ quá trình nào trong đó người ta chia sẻ thông tin, ý niệm và tình cảm, nó viện đến không chỉ ngôn từ ở dạng khẩu ngữ và bút ngữ mà cả ngôn ngữ thân thể, phong cách và kiểu cách cá nhân, ngoại cảnh và mọi thứ bổ sung ý nghĩa cho thông điệp” (Hybels & Weaver, 1992) Trong số các định nghĩa về giao tiếp đã được nêu trên, chúng tôi tạm sử dụng định nghĩa của Hybels & Weaver, bởi nó phản ánh đầy đủ hơn cả bản chất, mục đích, các thành tố tham gia… của quá trình giao tiếp. Bản chất của quá trình giao tiếp Bản chất của quá trình giao tiếp bao giờ cũng mang tính xã hội.
Điều này được thể hiện trước hết ở chỗ con người là một thực thể xã hội. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chỉ khi con người giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ, con người mới thực sự thoát ra khỏi cuộc sống mang tính bản năng động vật để trở thành con người có ý thức, con người với bản tính xã hội. Quá trình giao tiếp nảy sinh một cách tự nhiên từ nhu cầu cuộc sống. Để tồn tại và phát triển, con người không chỉ có nhu cầu trao đổi tình cảm mà còn có nhu cầu trao đổi kinh nghiệm sản xuất, hướng tới sự hợp tác để tạo ra sức mạnh tập thể nhằm vượt qua những khó khăn thường xuyên gặp phải.
Không có sự giao tiếp, mọi hoạt động xã hội sẽ bị ngừng trệ hoặc có khi tê liệt hoàn toàn. Giao tiếp tồn tại vừa như là cơ sở cho mọi hoạt động xã hội vừa như là nhân tố kích thích làm tăng cường mối liên hệ hợp tác của mọi thành viên. Mục đích của quá trình giao tiếp là truyền tải được những thông điệp. Đây là quá trình liên quan đến cả người gửi và người nhận thông điệp.
Quá trình này có khả năng bị m c lỗi do thông điệp thường được hiểu hoặc dịch sai đi bởi một hay nhiều hơn những thành phần khác tham gia vào quá trình này. Điều này tạo nên những rối loạn không cần thiết và giảm hiệu quả. Thực tế thì một thông điệp chỉ thật sự thành công khi cả người gửi và người nhận thông điệp đều lĩnh hội nó theo cùng một cách. Sơ đồ giao tiếp – Các thành tố cấu thành của quá trình giao tiếp Theo Mai Xuân Huy trong Ngôn ngữ quảng cáo dưới ánh sáng của lý thuyết giao tiếp (2005), thì vào những năm đầu của thế kỷ XX, L.
Bloomfield đưa ra sơ đồ S…r…s…R với hai nhân vật giao tiếp là người nói – người nghe (trong đó, S: kích thích nhằm vào người nói; r: (lời) – phản ứng của người nói; s: (lời) – kích thích của người nói; R: lời – phản ứng của người nghe) và chỉ ra rằng r và s là hai bình diện của lời mà ngôn ngữ học cần nghiên cứu. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên sơ đồ trên còn khá đơn giản và chưa diễn tả hết các nhân tố trong quá trình giao tiếp của con người. Jakobson trong công trình “Linguistics and Poetics” (Dẫn theo Mai Xuân Huy, sđd) đã đưa ra một sơ đồ giao tiếp như sau: Ngữ cảnh Ngƣời phát -------------Thông điệp-------------Ngƣời nhận Tiếp xúc Mã Như vậy, theo sơ đồ này, trong quá trình giao tiếp, ta thấy xuất hiện các thành phần chính yếu sau đây: người phát, người nhận, thông điệp, ngữ cảnh, tiếp xúc và mã. - Người phát (còn được gọi là người nói, hay nguồn): Là người đưa ra hành vi giao tiếp.
- Người nhận (còn được gọi là người nghe, hay người diễn giải): Là người gán nghĩa vào hành vi của người gửi. - Thông điệp: Thực chất là một chuỗi tín hiệu được mã hóa, được truyền đạt và tiếp nhận giữa hai nhân vật giao tiếp thông qua một loại mã nhất định. - Mã: Là phương tiện qua đó các thông điệp được truyền tải từ người gửi đến người nhận. Trong giao tiếp liên nhân trực diện, hai kênh chính được sử dụng là nghe và nhìn.
- Tiếp xúc: Để truyền tải bất cứ điều gì, giữa người phát và người nhận thông điệp buộc phải có sự tiếp xúc hay quan hệ với nhau. - Ngữ cảnh: Là tình huống trong đó thông điệp được truyền tải. Ngữ cảnh bao gồm: địa điểm giao tiếp, thời gian giao tiếp, phương tiện truyền tải, số người có mặt… 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Jakobson luôn được coi là một sơ đồ cổ điển về ngôn giao.
Bởi vì nó đã thể hiện được khá đầy đủ các nhân tố giao tiếp. Hoạt động giao tiếp ở đây được hiểu theo nghĩa rộng: bao gồm tất cả các dạng của quá trình trao đổi thông tin giữa con người với nhau. Sơ đồ trên được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ sau này kế thừa và phát triển theo những cách khác nhau. Chức năng của giao tiếp Theo Nguyễn Quang (2008), sđd, trong giao tiếp, người ta, ở các mức độ khác nhau, đều thực hiện hai nhiệm vụ chính yếu là thông tin và thuyết phục.
Tác giả này đã giới thiệu quan điểm của hai học giả nước ngoài về chức năng của giao tiếp: Verderber (1990) nêu ra ba chức năng chính yếu của giao tiếp. Đó là chức năng tâm lý, chức năng xã hội và chức năng lập quyết định. - Với chức năng tâm lý, tác giả cho rằng chúng ta giao tiếp để một mặt đáp ứng các nhu cầu và mặt khác để nâng cao và duy trì ý thức về bản thân. - Xét về chức năng xã hội, chúng ta giao tiếp nhằm hai mục đích: để phát triển các quan hệ và để hoàn thành các nghĩa vụ xã hội.
- Về chức năng lập quyết định, chúng ta giao tiếp để trao đổi và đánh giá thông tin cũng như tạo ảnh hưởng đối với người khác. Adler và Rodman (1994) lại xem xét các chức năng giao tiếp trên cơ sở nhu cầu. Theo họ, giao tiếp là nhằm thỏa mãn các nhu cầu sau: - Nhu cầu thể chất: Có những bằng chứng cho thấy việc thiếu giao tiếp đã dẫn đến những hậu quả ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người. - Nhu cầu nhận diện: Chỉ trong sự tương tác với những người khác, ta mới thực sự nhận diện được bản thân.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nhu cầu xã hội: Giao tiếp tạo ra sự kết nối sống còn với những người khác.