Chương 1: GIỚI THUYẾT VỀ PHÁI TÍNH VÀ Ý THỨC PHÁI TÍNH 1.1 Phái tính, ý thức phái tính và sự vận động của nó Phái tính không phải là một khái niệm mới nhưng chính nỗ lực của nó trong việc tổng hợp các thuật ngữ chỉ giống, phái khiến nó có phần mới lạ về nghĩa. Ý niệm về phái tính hẳn nhiên đã hình thành kể từ khi loài người biết phân biệt đàn ông/đàn bà, và còn luôn hiện hữu mỗi khi người ta muốn so sánh những điểm khác biệt giữa hai phái này. Trong từ điển tiếng Việt, từ điển Hán Việt và các từ điển ngoại ngữ cũng không có một thuật ngữ với hàm nghĩa khái quát như thế. Tuy nhiên, nó đã hiện hữu đến cũ, cổ trong Kinh Thánh và trong đời sống Công giáo.
Để hiểu phái tính, chúng tôi tổng hợp một hệ thuật ngữ quy chiếu nó. Phái tính là sự tổng hòa nghĩa của những từ “giống”, “phái”, “giới tính” mang lại. Phái tính = gender (phái) + sex (giống, giới, giới tính) = the male sex (phái nam) + masculinity (bản tính nam/tính nam) / the fair sex (phái nữ) + feminity (bản tính nữ/tính nữ). Phái tính chỉ sự liên kết giữa giới và những bản tính đặc trưng cho từng phái riêng biệt.
Nó được nhận diện không ngừng trong đời sống cũng như trong khoa học, từ tôn giáo, triết học, nhân chủng học, tâm lý học, xã hội học… đến văn học. Ý thức về phái tính trở thành một nội dung quan trọng trong đời sống của thế giới hiện đại, kể từ nửa cuối thế kỷ XIX.1 Những quan niệm có tính truyền thống về phái tính Phụ nữ là kẻ phái sinh Trong Kinh Thánh, đàn bà được sinh ra từ xương sườn đàn ông, “cái mà Bossuet gọi là xương thừa của ông Adam” [25, 321], trở thành kẻ phái sinh, kẻ phụ tá trong cuộc đời của đàn ông. Khi đối diện với đàn ông, đàn bà được gọi là đàn bà chứ không được gọi là con người. Điều đó chứa đựng một quan niệm đàn bà là thứ cấp, tự nó không hoàn chỉnh.
Aristotle cho rằng đàn bà chỉ là vật chất (matière), phát triển một cách hỗn loạn, bừa bãi, nếu không có đàn ông, nhờ những hạt giống của họ, đem đến cho các vật chất này hình thái và mặt mũi. “Aristotle nói : Giống cái (female) là giống cái do sự thiếu thốn các đặc tính nào đó; chúng ta nên xem bản tính giống cái 15 như bị đau buồn vì sự khiếm khuyết tự nhiên”. Và thánh Thomas về phần mình đã tuyên bố phụ nữ là một “người đàn ông không hoàn chỉnh”, một sinh vật “phụ”” [25, 321]. Chính vì là kẻ phụ tá nên đàn bà luôn ở thế lệ thuộc, phục tùng đàn ông.
Các tôn giáo tập trung vào sự thờ phụng Chúa có hình tượng đàn ông (male God) làm cho tâm trạng và hành động của phụ nữ bị giữ lại trong trạng thái lệ thuộc vào đàn ông, đồng thời hợp thức hóa uy quyền chính trị và xã hội người cha và con trai trong các thể chế xã hội. Mặc dù những quan điểm cho rằng đã có những xã hội mẫu quyền là khá phổ biến nhưng nhiều nghiên cứu mới về văn hóa của Lévi-Strauss, R.Lowie hay Francoise Héritier đều khẳng định thực tế, trên thế giới chưa bao giờ có xã hội mẫu quyền. “Trong các xã hội tôn thờ sự sinh nở, đàn bà không nắm quyền lực và trong các xã hội mẫu hệ, anh em trai của các bà mẹ áp đặt quyền thống trị [41]. Ở phương Đông, đạo Khổng khoác lên cổ người phụ nữ ba cái tròng và bó buộc chân tay họ bằng bốn sợi dây: tam tòng tứ đức.
Sự phân biệt đối xử với phụ nữ không khác mấy so với sự phân biệt chủng tộc (Xem thêm Phụ lục: Bảng 1). Sự phân biệt đối xử còn thể hiện ở một hình thức cao hơn, là ngôn ngữ. Ngôn ngữ chỉ phụ nữ phái sinh ngay trên bề mặt, kết cấu ngôn ngữ chỉ nam giới. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ thống văn hóa phương tây có tính trọng dương vật (phallogocentric).
Nền văn hóa ấy được cấu trúc qua những cặp đối lập như nam/nữ, trật tự/hỗn loạn, ngôn ngữ/im lặng, hiện diện/vắng mặt, nói/viết, sáng/tối.mà những từ như nam, trật tự, ngôn ngữ, hiện diện. là cấu trúc cơ bản của tư tưởng tây phương. Theo Francoise Héritier, từ thời nguyên thuỷ, con người luôn luôn tìm tòi ý nghĩa của sự phân biệt không thể tránh được mà họ quan sát nơi tất cả các bầy thú và người: sự hiện hữu của hai giới tính, con đực và con cái. Từ mô hình đực/cái, con người đã sáng tạo ra hàng trăm loại từ thông thường như trên/dưới, nóng/lạnh, thụ động/hoạt động đến trừu tượng như hợp pháp/bất hợp pháp, thuần lý/phi lý, lành mạnh/nguy hại v.v… Trong mọi trường hợp, những giá trị đực lúc nào cũng được đánh giá cao, những giá trị cái lúc nào cũng bị đánh giá thấp.
Tại châu Âu, chẳng hạn, sự hoạt động là một giá trị đực và sự thụ động là một giá trị cái, chính giá trị đực - hoạt động - được đánh giá cao vì nó được liên hợp với sự làm chủ thế giới, và chi phối các sự việc. Trong xã hội 16 Ấn Độ và Trung Hoa, ngược lại sự thụ động được liên hợp với đực và sự hoạt động với cái. Nhưng mặc dù với sự đảo ngược này, đực đã được đánh giá cao: sự thụ động của đàn ông được liên hợp với sự làm chủ chính mình, làm chủ các xúc động và các ham muốn, trong khi đó, sự hoạt động của đàn bà được xem như một sự náo động bừa bãi, lộn xộn [41]. Ở phương Đông cũng có thực tế lịch sử của hệ thống văn hóa như vậy, đó là văn hóa âm – dương, đàn ông là dương, đàn bà là âm, những cặp từ như mặt trời/mặt trăng, ngày/đêm, nóng/lạnh, lửa/nước, chủ động/bị động… Chính cái cấu trúc ngôn ngữ đối xứng ấy cũng là kết quả của tư duy thống trị bởi nam giới.
Phái tính của người phụ nữ bị đè bẹp ngay trong ngôn ngữ, thậm chí, còn bị xuyên tạc rất nhiều. Tính nữ được quy định bởi đặc điểm giống phái Đâu là cơ sở của tính nữ? Những nghiên cứu khoa học về giống phái khiến cho người ta hy vọng hay tin tưởng có một “bản sắc nữ vĩnh cửu”. Vì với họ, “phụ nữ vẫn là phụ nữ”. Điều này ám chỉ những đặc điểm sinh học bất di bất dịch của phụ nữ và một giới tính được định hướng bởi nền văn hóa.
Theo John J Macionis, giống phái ám chỉ sự phân chia con người thành những nhóm sinh học gồm nam và nữ. Khi sinh ra, phái nữ và phái nam phân biệt bằng đặc điểm giống phái sơ cấp - cơ quan sinh dục, dùng để sinh sản giống người. Ở tuổi dậy thì, đầu độ tuổi thanh thiếu niên, khi con người có khả năng sinh sản, sự phân biệt sinh học nhiều hơn nữa diễn ra dưới dạng đặc điểm giống phái thứ cấp - đặc điểm cơ thể khác biệt của phái nam và phái nữ không liên kết trực tiếp với sinh sản [55]. Giới tính ám chỉ đặc điểm liên kết bằng văn hoá với mỗi phái.
Trong một xã hội, phái nam được xã hội hoá thành nam tính, trong khi phái nữ được dạy bảo thành nữ tính. Giới tính là sự khác nhau mà phái tạo ra trong một xã hội, định hướng chúng ta nên nghĩ về mình như thế nào, cách chúng ta tương tác với người khác ra sao, và chúng ta đang đảm nhận vị trí nào trong hệ thống bất công xã hội (Xem Phụ lục: Bảng 2). Sự định hướng giới tính như thế này, rõ ràng, làm cho cả hai phái mất tự do trong việc điều khiển ý nghĩ, hành động, thậm chí là cả cảm xúc của mình. Và nhất là, sự quy định này càng gắn chặt người nữ trong vị thế kẻ thứ yếu.
Mỹ học về phụ nữ nhiều khi là hình thức của sự khổ hạnh 17 Từ xưa đến nay, quan niệm về cái đẹp ở người phụ nữ có phải do phụ nữ lựa chọn không? Thực tế cho thấy trong nền văn hóa phụ quyền, ngay cả việc tạo lập một mỹ học về chính bản thân phái nữ, nữ giới cũng không thể hiện được phái tính của mình. Cái đẹp về thể xác của họ bị quy định bởi quan niệm của nam giới. Ở Nhật Bản, cái gáy dài của một người đàn bà, dưới những sợi tóc mai đen thẫm, vươn ra từ cổ áo kimono từng là một hình ảnh vừa thanh thoát, vừa cực kỳ gợi cảm cho đàn ông. Thời Phục Hưng ở Tây Âu, những bức vẽ nữ thần Venus cho thấy người phương Tây thích phụ nữ có làn da mịn hồng, dáng vóc nở nang, cái eo hơi thon và cặp vú nhỏ, đầy đặn.
Có dân tộc ở châu Phi thích kiểu vú mướp, cổ dài, miệng to, trễ… Người Trung Hoa chuộng những phụ nữ mảnh mai nên có tục sùng bái chân nhỏ với những ngón chân bị ép quặp như "đóa hoa sen". Không chỉ lệ thuộc nam giới trong quan niệm về cái đẹp thể xác, nữ giới còn phải tuân thủ cả những quan niệm về vẻ đẹp tâm hồn. “Công, Dung, Ngôn, Hạnh”, giữ vẹn toàn chữ “Trinh” là phẩm tính tốt đẹp nhất của người phụ nữ theo quan điểm Nho giáo. Ngay cả ở phương Tây, quyền sở hữu tình dục cũng không đặt ra với giới tính nữ.
Đức mẹ đồng trinh trở thành biểu tượng của tâm hồn trinh trắng. Phụ nữ Hồi giáo phải che mạng, một số dân tộc châu Phi có hủ tục cắt mồng đóc, giống như tục bó chân của người Hán trước đây. Tất cả những nét thẩm mỹ ấy giống như hình thức của sự khổ hạnh, nếu không muốn nói đấy là cực hình, là sự lệ thuộc tột cùng của người phụ nữ. Họ không hạnh phúc khi là một người phụ nữ với tất cả những cái đẹp đó2.2 Sự nổi dậy của ý thức phái tính Sự nổi dậy của ý thức phái tính gắn liền với chủ nghĩa nữ quyền (Féminisme, Feminism).
Tuy vậy, chúng không phải là một cặp sinh đôi. Bởi theo cái nghĩa sát thực nhất, ý thức phái tính phải là ý thức về những gì gắn bó nhất với mỗi phái về mặt 2 Ví dụ: bằng lối viết giản dị trong giọng tâm tình của thể thơ 6 chữ, bài Anh đừng khen em của Lâm Thị Mỹ Dạ đã làm một cuộc phản kháng nhỏ với sự áp đặt thẩm mỹ này. Chúng ta có thể hiểu thêm sự áp đặt thẩm mỹ ở cả ngoại hình (cái nhìn đẹp, má hồng) lẫn tính cách (nhạy cảm thông, hiền, dịu dàng, giàu cảm xúc) dưới hình thức lời khen. Mỗi lời khen, lần khen tạo nên một sự kích ứng lặng lẽ.