phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cuộc đời và sự nghiệp Chƣơng 2: Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Thâm Tâm Chƣơng 3: Phƣơng thức biểu hiện trong truyện ngắn Thâm Tâm 6 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1: CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP 1. Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình, sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917 tại thị xã Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng. Thâm Tâm là con thứ trong một gia đình nhà nho nghèo và đông anh chị em. Học hết bậc tiểu học Thâm Tâm phải ở nhà giúp gia đình đóng sách và nấu bánh kẹo.
Lúc ấy, gia đình Thâm Tâm sống ở thị xã Hải Dƣơng, thị xã nằm giữa hai thành phố lớn là Hà Nội và Hải Phòng nhƣng đời sống kinh tế vô cùng khó khăn. Hải Dƣơng nằm trên trục đƣờng số 5, sát bờ sông Hàn nhƣng Hải Dƣơng không có nhiều sản vật để phát triển giao thông đƣờng thủy. Vào những năm cuối thập kỉ 30, sau khi phe Phát xít thu đƣợc những chiến thắng ban đầu trong đại chiến thứ hai thì Phát xít Nhật đã mở rộng bành trƣớng xâm lƣợc mở rộng ra hầu hết các nƣớc Đông Nam Á. Sau khi đƣa đƣợc quân vào Trung Quốc, Nhật dần dần đuổi quân Pháp ra khỏi các nƣớc Mi-an-ma, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, Phi-líp-pin và ba nƣớc bán đảo Đông Dƣơng.
Ở Việt Nam, Nhật gây chiến với Pháp ở Lạng Sơn và ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đã hất cẳng Pháp ra giành lấy quyền thống trị. Nhân dân ta vốn đã chịu sự áp bức của Pháp và quan lại phong kiến nay lại chịu thêm vòng xích của Nhật xiết chặt vào cổ. Để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lƣợc của chúng, Nhật bắt dân ta ở Bắc kì nhổ lúa trồng đay lấy sợi phục vụ cho ngành quân trang, quân dụng của chúng. Chúng lại đem thóc lúa ở Nam kì đốt chạy thành than để chạy máy.
Những huyện là vựa lúa của tỉnh Hải Dƣơng nhƣ Tứ Kì, Gia Lộc, Ninh Giang, Thanh Miện nhân dân đói kém phải bỏ nhà tha phƣơng đi ăn xin. Các tỉnh lân cận nhƣ Thái Bình, Hƣng Yên ngƣời chết nhƣ ngả dạ. Năm 1938, Thâm 7 Tâm cùng gia đình chuyển lên Hà Nội kiếm sống, ở số 7 Đội Cung- tức phố Thái Phiên bây giờ. Vợ của Thâm Tâm là công nhân của hãng dệt Phúc Lai, bà quê gốc ở Thanh Hóa.
Thâm Tâm đi làm suốt ngày, đêm về lại thức khuya để viết lách, vẽ tranh. Gia cảnh của Thâm Tâm rất cơ hàn, túng quẫn. Gia đình gồm cha mẹ già, hai chị cùng bốn đứa em còn nhỏ và vợ, có đến cả chục miệng ăn và ngần ấy ngƣời dồn ép sống trong căn nhà thuê rộng khoảng 20m2. Thâm Tâm nhận đóng sách ở nhà in Mai Lĩnh rồi mang nhận thêm mang về cho cả gia đình làm, còn Thâm Tâm thì đi vẽ tranh minh họa cho các báo, vẽ tranh bờ hồ đi bán ở các trại lính Tây, làm thơ, viết truyện, viết kịch, tạp văn… gửi đăng báo vừa để sinh nhai vừa thỏa cái mộng văn chƣơng hằng ấp ủ.
Do chơi thân với Trần Huyền Trân và Phạm Quang Hòa nên ba ngƣời rủ nhau ra làm báo Bắc Hà. Phạm Quang Hòa chỉ có năm mƣơi đồng bạc bỏ ra còn bài vở thì chủ yếu là do Thâm Tâm và Huyền Trân chịu trách nhiệm. Nhƣng chỉ đƣợc ba, bốn số thì hết tiền. Thu tiền báo ở các sạp báo về cũng không đủ trả tiền giấy, tiền in nên đành phải đóng cửa tòa soạn lại.
Nhƣng máu nghề nghiệp và mƣu sinh không cho họ nản chí dừng lại. Có thể nói là Thâm Tâm viết cật lực, không kén chọn lắm về đề tài, thể loại, nơi in… Trong cuộc đời mình, Thâm Tâm đã chứng kiến những cảnh xót xa, đau lòng: một cháu bé thoi thóp đang nhay bầu sữa mẹ mà mẹ đã chết cứng, chị phụ nữ gầy tong teo đang xé xác một con chuột chết đƣa lên miệng, những ngƣời chỉ còn da bọc xƣơng gầy đen, xám ngoét gục ngã ven đƣờng rồi chỉ vài tiếng sau cũng thành thây ma bị xe bò đƣa ra hố chon ngƣời tập thể. Và hàng ngày, hàng đêm, đoàn xe bò chở những thây ma đắp chiếu rách, bao tải rách đi qua các xóm cầm ca mà sau này Văn Cao đƣa vào thơ là những xe xác đi qua phƣờng Dạ Lạc. Thâm Tâm bị ám ảnh bởi những tiếng trống, tiếng mõ thúc sƣu, thuế, những tiếng vút roi đòn của các thầy đội “phú lít”, những xếp tây đồn điền, sở mỏ… Thâm Tâm còn là chứng nhân của những 8 nhát kiếm chặt đầu ngƣời của lính Nhật ở trên các nẻo phố Hà Nội.
Ở Hà Nội, những ngƣời dân nghèo lam lũ làm đủ nghề buôn thúng bán mẹt, làm kiếp người ngựa- ngựa người… mà vẫn không đủ sống. Một ngƣời sống tình cảm và nội tâm nhƣ Thâm Tâm phải chứng kiến những cái đó nhƣ những nhát dao khía vào tim mình, những điều trông thấy mà đau đớn lòng ấy chúng ta bắt gặp trong văn chƣơng của Thâm Tâm. Trong Thi nhân Việt Nam, ông Hoài Thanh- Hoài Chân đƣa ra các xóm thơ trong làng thơ Việt Nam nhƣ: - Xóm Sông Thƣơng: Bàng Bá Lân- Anh Thơ… - Xóm Tự Lực: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… - Xóm Phƣơng Đông: Lƣu Trọng Lƣ, Thái Can… - Xóm Huế: Phan Văn Dật, Nam Trân, Nguyễn Đình Thƣ… - Xóm Bình Định: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên… - Xóm Hà Tiên: Đông Hồ, Mộng Tuyết… Và ngoài những xóm trên chúng ta còn thấy có thêm một nhóm nữa mà vị trí của nhóm trong làng thơ giữ vai trò không kém phần quan trọng, nhóm ấy đƣợc ngƣời đƣơng thời mệnh danh là xóm “áo bào gốc liễu” (có nghĩa: tráng sĩ buộc ngựa vào gốc cây liễu, vén áo bào nhảy xuống vào quán nƣớc) với ba nhân vật nổi bật nhất là Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nguyễn Bính. Cái khác trong nội dung thơ của xóm này so với nội dung của nhiều nhà thơ đƣơng thời là cái giọng văn chƣơng hiệp sĩ, chất tráng ca.
Họ có cái nhìn hiện thực của Đỗ Phủ, Nguyễn Du nhƣng lại có cái hào sảng của Lục Du. Thơ của xóm này giàu hình ảnh các tráng sĩ lên đƣờng thời Chiến Quốc Xuân Thu.Về nghệ thuật thì ta thấy rất rõ hơi thơ cổ phong toát lên từ thơ của các nhà thơ này. Họ thích làm thơ ở thể hành- một thể thơ khá phổ biến trong thơ Đƣờng. Nguyễn Bính nghiêng về thể loại thơ độc vận trong một số bài thơ dài.
Huyền Trân và Thâm Tâm sành về thể thất ngôn và lục bát. Chữ 9 nghĩa trong thơ nằm ở cả hai vùng sáng và mờ ngữ nghĩa, thiên về phía từ trong thơ nôm cổ hoặc từ Hán- Việt nhƣng đã đƣợc Việt hóa nhuần nhuyễn. Họ có cùng điểm chung là xuất thân từ thành phần dân nghèo trong xã hội cũ mà xã hội lại dành cho những thành phần ấy một thân phận buồn tủi, u ám, mờ mịt. Họ sống tù túng, ngột ngạt nên khao khát một khung trời khác, chƣa đến đƣợc khung trời ấy họ tỏ ra bức bối, đập phá nhƣng vẫn không chịu lùi bƣớc.
Họ lại cùng một trình độ xấp xỉ nhƣ nhau, học nhiều chữ Hán, thơ nôm cổ và ảnh hƣởng của văn học phƣơng tây thì hầu nhƣ không có. Họ vì nghèo không đƣợc đến trƣờng lớp học nhiều nhƣng không vì thế mà tài năng thiên bầm của họ bị tàn lụi. Nói đến Thâm Tâm trƣớc Cách mạng những ai yêu mến ông cho tới ngày nay cũng không thể nào quên một sự kiện gắn với ông, sự kiện ấy đã tốn biết bao giấy mực tranh cãi, mấy chữ cái T.Kh đi đôi với Thâm Tâm đã trở thành một hồ sơ văn học, một nghi án trong văn chƣơng. Nhân tiện đây, chúng tôi cũng xin điểm lại sự kiện này.
Khoảng tháng 9 năm 1937, tờ Tiểu thuyết thứ Bảy đăng truyện ngắn Hoa ti gôn của Nguyễn Thanh Châu. Thời gian ngắn sau, tòa soạn nhận đƣợc một bài thơ tựa đề Bài thơ thứ nhất, sau đó nhận thêm bài Hai sắc hoa Ti gôn nữa. Tác giả của hai bài thơ này kí tên là T.Kh mà không hề ghi rõ họ tên cũng nhƣ địa chỉ liên lạc. Tiểu thuyết thứ Bảy có đề nghị tác giả cho biết địa chỉ để gửi báo biếu thì nhà văn Thanh Châu nhận đƣợc một bức thƣ ngắn với nội dung không muốn công khai tên tuổi làm gì vì cuộc đời riêng éo le buồn khổ không muốn nói.
Bức thƣ này ông Thanh Châu không giữ để công bố. Sau khi hai bài thơ trên xuất hiện trên mặt báo, trong làng văn thơ bỗng xôn xao, nhiều tranh cãi. Có đến mấy ngƣời tự nhận mình chính là ngƣời yêu của T.Kh, trong đó có Thâm Tâm, Nguyễn Bính. Tuy hai bài thơ không hẳn là những áng thơ kiệt tác về mặt nghệ thuật nhƣng làm rung động lòng 10 ngƣời ở câu chuyện tình ngang trái với cách kể giản dị, không sáo ngữ, cách diễn đạt khá hiện đại: Người ấy thường hay vuốt tóc tôi, Thở dài trong lúc thấy tôi vui; Bảo rằng: “Hoa giống như tim vỡ; Anh sợ tình ta cũng thế thôi!” Và rồi không ngờ sự lo lắng kia đã trở thành hiện thực: Người xa xăm quá- Tôi buồn lắm Trong một ngày vui pháo nhuộm đường Rồi cuộc đời cô trải qua những ngày tháng: Từ đấy thu rồi thu lại thu Lòng tôi còn giá tới bao giờ Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ Người ấy cho nên vẫn hững hờ Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi Mà từng thu chết, từng thu chết Vẫn giấu trong tim một bóng người (Hai sắc hoa Ti gôn) Ở lại vườn Thanh có một mình, Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh, Yêu trăng lạnh lẽo rơi trên áo, Yêu bóng chim xa, nắng lướt mành Và một ngày kia tôi phải yêu Cả chồng tôi nữa, lúc đi theo 11 Những cô áo đỏ sang nhà khác! -Gió hỡi, làm sao lạnh rất nhiều? (Bài thơ thứ nhất) Những ngƣời tự nhận mình là ngƣời yêu của T.Kh đã làm những bài thơ để đáp lại nàng: Thâm Tâm có bài Các anh, Mầu máu Ti gôn; Nguyễn Bính có bài Cô gái vườn Thanh, Dòng dư lệ.Kh có gửi bài thơ Đao áo cho chồng đến cho một ngƣời thì không biết thế nào bài thơ ấy lại đƣợc in trên tờ báo Đàn bà.Kh gửi đến tòa soạn bài thơ Bài thơ cuối cùng có nội dung trách móc, oán hận rồi từ đó nhân vật T.Kh không còn gửi gì đến tòa soạn nữa cũng nhƣ có phản ứng gì khi trên văn đàn xảy ra cuộc tranh luận T.Kh- nàng là ai?