Chương 1: Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong bối cảnh của truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại Chương 2: Hiện thực cuộc sống và con người trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ Chương 3: Nghệ thuật thể hiện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ NỘI DUNG Chƣơng 1 TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ TRONG BỐI CẢNH CỦA TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI 1. Một số vấn đề lý thuyết về truyện ngắn 1. Giới thuyết về truyện ngắn Thể loại tác phẩm văn học là khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một loại hình thức tồn tại chỉnh thể. Không phải ngẫu nhiên mà sau nhan đề tác phẩm người ta thông báo ngay tên thể loại.
Điều này có ý nghĩa, nói tới thể loại là nói tới một cách tổ chức tác phẩm, một kiểu tái hiện đời sống và một kiểu giao tiếp nghệ thuật. Gronopxki trong sách Đọc truyện ngắn viết: “Truyện ngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ, biến đổi không ngừng”. Thật vậy, bởi xung quanh thuật ngữ này có rất nhiều định nghĩa khác nhau. Từ điển văn học giải thích “Truyện ngắn là hình thức tự sự loại nhỏ; truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội” [39 -137].
Trong 150 thuật ngữ văn học thì truyện ngắn được xác định là “thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập đến hầu hết các phương diện đời sống con người và xã hội. Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nó liền mạch không nghĩ” [2 - 359]. Các định nghĩa trên bổ sung cho nhau làm nổi bật rõ những đặc trưng cơ bản nhất của truyện ngắn. Đặc điểm cơ bản nhất của truyện ngắn để phân biệt với truyện dài, tiểu thuyết là “ngắn”.
Nhà văn Nguyên Ngọc, giải thích cái ngắn trong truyện ngắn như sau: “Sở dĩ truyện ngắn ngắn, sở dĩ người ta có thể viết ngắn là vì người ta đã biết quá nhiều. Qúa nhiều đến mức có thể tước bỏ tất cả những gì phù phiếm, không cốt lõi, không quan trọng. Phải có rất nhiều nguyên liệu thì mới có thể chưng cất. Truyện ngắn vì nó là tác phẩm nghệ thuật chưng cất, chứ không phải là nguyên liệu thô” [26 - 14].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Số lượng câu chữ có hạn nhưng lại có “sức chứa”, “sức mở” lớn cũng là một đặc điểm nổi bật của truyện ngắn. Khi bàn về dung lượng truyện ngắn trong cuộc trao đổi về truyện ngắn năm 1992 trên báo Văn nghệ. Nhà văn Nguyên Ngọc đã nhấn mạnh: “Dung lượng truyện ngắn hiện nay rất lớn, trong độ ba trang mấy nghìn chữ mà rõ mặt cuộc đời, một kiếp người, một thời đại…Các truyện ngắn bây giờ rất nặng, dung lượng của nó là dung lượng của cả một cuốn tiểu thuyết, bởi vì cái đặc sắc của thể loại buộc nó phải dồn nén lại, cho đến sắc lịm, nhọn hoắt. Như vậy dung lượng hay chất lượng nghệ thuật của truyện ngắn bình đẳng với tiểu thuyết” [31- 3].
Điều cốt yếu đối với truyện (truyện ngắn cũng như tiểu thuyết) là con người, là nhân vật “Trong một tác phẩm nếu là truyện ngắn, do lệ thuộc vào số trang eo hẹp, cốt truyện tập trung, sự kiện dồn dập, đường dây chặt chẽ, cho nên số lượng phân phối nhân vật cũng không phải nhiều” [6 - 26]. Truyện ngắn thường ít nhân vật, nhà văn không thể miêu tả quá trình phát triển tính cách của nhân vật từ trưởng thành, biến đổi, đấu tranh hay dằn vặt như trong tiểu thuyết, mà chỉ đi sâu vào một vài khía cạnh, một thời điểm trong cuộc đời nhân vật. Dù không được khắc họa sắc nét về ngoại hình, lý lịch nhưng người ta vẫn hình dung được gương mặt tinh thần tương đối trọn vẹn của nhân vật và gây được một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và con người. Trong truyện ngắn, kết cấu rất quan trọng – mà trước hết là sự sắp xếp các yếu tố cốt truyện.
Nhà văn Ma Văn Kháng đã ý thức rất rõ về điều này: “Vấn đề là anh tổ chức sao cho truyện ngắn của anh thành một lát cắt gọn ghẽ. Như người ta vẫn nói, không xô đẩy xộc xệch, thậm chí không thừa một chi tiết nào”. Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã so sánh với tiểu thuyết: “Nếu tiểu thuyết là một đoạn của dòng đời thì truyện ngắn là cái mặt cắt của dòng đời. Vì thế mà cũng như kịch ngắn, truyện ngắn đòi hỏi ở người viết một công việc tổ chức và cấu trúc truyện hết sức nghiêm ngặt.
Quả thực có một thứ kỹ thuật tinh xảo – kĩ thuật viết truyện ngắn. Nó cũng giống như kĩ thuật của người làm pháo, dồn nén tư tưởng vào trong một cốt truyện thật ngắn gọn, thật tự nhiên”. Truyện ngắn là thể loại năng động, dễ bắt kịp hơi thở thời đại, có khả năng là tiếng nói nhanh nhạy nhất, phản ánh thời sự các vấn đề nóng hổi của thời đại, con người một cách chính xác. Vì là một thể loại năng động, bén nhạy, nên truyện ngắn hiện nay mang trong mình nhiều dấu hiệu không ổn định, cách xây dựng truyện ngắn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ hiện nay uyển chuyển đa dạng hơn, xu hướng tự nới mở, không ngừng cách tân trong cách thức diễn đạt, khiến truyện ngắn linh hoạt hơn.
Và đây cũng chỉ là những khả năng, đặc điểm mang tính bản thể của thể loại truyện ngắn. Với những khả năng, đặc điểm đó, truyện ngắn đã tạo cho bản thân thể loại những giá trị riêng biệt. Mỗi truyện ngắn đều gây một ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người, nói như D. Boulanger là: “Đánh thức và cuốn hút cả năm giác quan của người đọc”.
Tạo được ấn tượng nổi bật nhất, sâu sắc nhất và những chiều sâu chưa nói hết, đó chính là điều khiến truyện ngắn luôn hấp dẫn bạn đọc. Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ trong dòng chảy của truyện ngắn nữ đƣơng đại Thập niên 90 của thế kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XIX là khoảng thời gian được mùa của truyện ngắn. Trong đó có sự đóng góp của các cây bút nữ. Người ta nói nhiều đến một nền văn học “mang gương mặt nữ”.
“Đã hình thành một tỉ lệ giữa phái yếu và đấng mày râu là 2/3 – một tỉ lệ đáng gờm bởi nhìn vào đó sẽ thấy truyện ngắn trẻ hôm nay và văn chương nói chung mang gương mặt nữ” ( theo Bùi Việt Thắng). Bên cạnh thế hệ nhà văn đã trưởng thành trong chiến tranh như: Lê Minh, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Thị Như Trang, Lê Minh Khuê…., là thế hệ nhà văn mới phát lộ tài năng. Đây là đội ngũ nhà văn đông đảo, trẻ tuổi, sung sức, tự tin và đầy nhiệt huyết. Có thể kể đến những gương mặt quen thuộc với bạn đọc như: Võ Thị Hảo, Lý Lan, Phạm Thị Hoài, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Châu Giang, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy….Với nhiệt huyết và sáng tạo không ngừng họ xứng đáng là đội ngũ kế cận thế hệ đàn chị của mình.
Nguyễn Thị Thu Huệ là một trong những cây bút nổi lên ngay từ đầu những năm 90 của thế kỉ XX. Những năm 90 độc giả yêu thích văn chương đã thực sự sửng sốt và ngỡ ngàng khi xuất hiện một truyện ngắn mà tác giả của nó chưa có tên tuổi: Hậu thiên đường. Cái nhìn của một nhà văn trẻ - một cô gái trẻ thật táo bạo, thật mới nhưng cũng thật buồn, mang đậm hơi thở cuộc sống, có sức hút kì lạ. Tác phẩm ấy như tiếp sức cho chị viết một loạt các truyện ngắn có tiếng vang khác: Cõi mê; Biển ấm; Phù thủy; Xin hãy tin em; Của để dành…Và cho đến thời điểm này, trên văn đàn Việt Nam hiện đại, cái tên Nguyễn Thị Thu Huệ đã không còn xa lạ, thậm chí chị đã Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ tạo được một phong cách riêng độc đáo, không lẫn với bất cứ nhà văn nào.
Truyện ngắn của chị gợi nên biết bao trăn trở trong mỗi người về con người và cuộc đời này. Trong dòng chảy chung của văn xuôi nữ thời kì đổi mới, so với Võ Thị Hảo ngọt ngào dịu nhẹ, Y Ban thâm trầm sâu sắc, Phan Thị Vàng Anh sắc sảo, trí tuệ thâm thúy, Lý Lan hồn hậu sắc sảo, Nguyễn Ngọc Tư sâu lắng mượt mà…thì Nguyễn Thị Thu Huệ khẳng định mình với phong cách viết dịu dàng mà mạnh mẽ, đằm thắm mà táo bạo. Là người phụ nữ từng trải, chị sống sâu sắc, mạnh bạo và dám thách thức. Chị là một nhà văn giàu nội lực với vốn sống phong phú đã cho ra đời những tác phẩm thu hút được nhiều độc giả.
Đọc tác phẩm của chị người ta sẽ thấy gần gũi, thân quen nhưng cũng không kém phần thấm thía, sâu sắc. Xuất hiện kịp thời khi quan niệm nghệ thuật về con người trong văn chương đã thay đổi từ sau đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ có dịp đi vào những vấn đề rất đỗi dung dị, bình thường nhưng không hề tầm thường, những vấn đề nhức nhối trong cuộc sống hiện đại đầy biến động. Đó là vấn đề tình yêu và hôn nhân, gia đình cùng những mâu thuẫn, xung đột xoay quanh tạo nên những bi kịch xã hội. Khác với một số đề tài của các nhà văn đương thời khác như Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài…là đi vào dư âm của cuộc chiến tranh, bi kịch của người lính trở về sau chiến tranh.
Đây cũng là điểm khác của chị so với những nhà văn đó, đặt trong sự đổi mới của văn học Việt Nam nói chung. Truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng đã đụng chạm đến những vấn đề cấm kị của văn học, tình yêu đã chớm mang màu sắc nhục thể nhưng đằm thắm, kín đáo, nhẹ nhàng. Đây là điểm mà các nhà văn trẻ sau này như Nguyễn Ngọc Tư, và đặc biệt là Đỗ Hoàng Diệu khai thác một cách mạnh bạo, công khai hơn. Từ khi bước vào nghiệp văn chương, Thu Huệ cùng với những tác phẩm của mình đã dành được thiện cảm của người đọc và giới phê bình, giảng dạy văn học.
Gần đây nhất là giải thưởng của Hội Nhà văn dành cho tập truyện ngắn Thành phố đi vắng (2012).