Luận án TS. Nhan Thị Lạc An: Đặc điểm trí nhớ trẻ động kinh qua trắc nghiệm CVLT-V

Nghiên cứu đặc điểm trí nhớ ở trẻ động kinh qua luận án tiến sĩ. Phân tích các rối loạn nhận thức, đánh giá khả năng ghi nhớ và đưa ra giải pháp hỗ trợ hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2025

231
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của trí nhớ lời ở trẻ động kinh

Trí nhớ lời là một thành phần quan trọng của chức năng nhận thức ở trẻ em, đặc biệt là những trẻ mắc bệnh động kinh. Bệnh động kinh ở trẻ em có thể ảnh hưởng đáng kể đến khả năng ghi nhớ và xử lý thông tin ngôn ngữ. Luận án Tiến sĩ này tập trung vào việc đánh giá các đặc điểm trí nhớ của trẻ động kinh thông qua công cụ trắc nghiệm tiêu chuẩn. Suy giảm chức năng nhận thức là một trong những hệ quả phổ biến của bệnh động kinh, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập và phát triển xã hội của trẻ. Việc hiểu rõ các đặc điểm trí nhớ lời giúp các chuyên gia tâm lý lâm sàng có cơ sở khoa học để can thiệp và hỗ trợ trẻ em này một cách hiệu quả.

1.1. Định nghĩa bệnh động kinh ở trẻ em

Bệnh động kinh là một rối loạn thần kinh mãn tính đặc trưng bởi những cơn động kinh tái phát. Ở trẻ em, bệnh động kinh xuất hiện trong độ tuổi từ 6 đến 16 tuổi với tỷ lệ mắc khá cao. Các cơn động kinh gây rối loạn hoạt động điện não, ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, trí nhớ và hành vi của trẻ. Các loại cơn động kinh khác nhau có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến chức năng não bộ.

1.2. Suy giảm chức năng nhận thức ở trẻ động kinh

Suy giảm chức năng nhận thức là biến chứng phổ biến của bệnh động kinh ở trẻ em. Các nghiên cứu cho thấy trẻ mắc động kinh thường gặp khó khăn trong ghi nhớ, tập trung và xử lý thông tin. Trí nhớ lời đặc biệt bị ảnh hưởng, làm giảm khả năng tiếp thu kiến thức ở trường. Mức độ suy giảm phụ thuộc vào loại cơn động kinh, tần suất cơn và liệu pháp điều trị.

II. Trắc nghiệm trí nhớ lời California Công cụ đánh giá tiêu chuẩn

Trắc nghiệm trí nhớ lời California (CVLT) là một công cụ đánh giá trí nhớ được công nhận quốc tế, được phát triển để đánh giá các khía cạnh khác nhau của trí nhớ lời. Phiên bản dành cho trẻ em của CVLT được thiết kế phù hợp với đặc điểm phát triển tâm lý ở độ tuổi 6-16. Công cụ này được thích nghi hoá văn hoá và ngôn ngữ cho phù hợp với bối cảnh tiếng Việt. Đặc điểm tâm trắc của CVLT bao gồm độ tin cậy cao, hiệu lực tiêu chí tốt, giúp phát hiện các rối loạn trí nhớ sớm. Sử dụng CVLT trong luận án này giúp có được dữ liệu khoa học chính xác về trí nhớ lời của trẻ động kinh.

2.1. Tổng quan về CVLT và phiên bản trẻ em

CVLT gồm nhiều yếu tố đo lường: trí nhớ gần hạn, trí nhớ dài hạn, học tập, chiến lược, và khả năng nhận biết. Phiên bản trẻ em sử dụng danh sách từ phù hợp với độ tuổi, giúp trẻ em dễ dàng tiếp nhận và trả lời câu hỏi. Công cụ này cho phép đánh giá toàn diện các khía cạnh khác nhau của trí nhớ lời.

2.2. Thích nghi văn hoá và ngôn ngữ CVLT tiếng Việt

Quá trình thích nghi trắc nghiệm tuân theo quy trình quốc tế, đảm bảo tính giá trị và tin cậy của công cụ. Từ vựng được chọn lọc phù hợp với văn hoá Việt Namtrình độ nhận thức của trẻ em Việt Nam. Các đặc điểm tâm trắc của phiên bản Việt được kiểm định thông qua nghiên cứu thực nghiệm với mẫu trẻ em Việt Nam.

III. Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu

Luận án Tiến sĩ này sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả-so sánh, với mục tiêu đánh giá đặc điểm trí nhớ lời của trẻ động kinh so với nhóm trẻ em bình thường. Cỡ mẫu được xác định dựa trên các tiêu chí thống kê và lâm sàng, đảm bảo tính đại diện. Phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm trắc nghiệm tâm lý (CVLT phiên bản Việt), khảo sát bảng hỏi, và phỏng vấn. Phương pháp xử lý dữ liệu sử dụng thống kê toán học để phân tích so sánh các đặc điểm trí nhớ giữa hai nhóm. Đạo đức nghiên cứu được tuân thủ nghiêm ngặt, với sự đồng ý từ các phụ huynh và bệnh nhân.

3.1. Lựa chọn mẫu và tiêu chí tham gia nghiên cứu

Cỡ mẫu gồm trẻ động kinh trong độ tuổi 6-16 tuổi được chẩn đoán tại bệnh viện, và nhóm trẻ em bình thường từ trường học. Tiêu chí loại trừ bao gồm trẻ có rối loạn phát triển khác, tổn thương não hoặc suy giảm chức năng nhận thức không liên quan đến động kinh. Việc chọn mẫu ngẫu nhiên giúp đảm bảo tính khách quan và đại diện.

3.2. Công cụ đo lường và quy trình thực hiện

Trắc nghiệm CVLT phiên bản Việt là công cụ chính được sử dụng. Bảng hỏi thu thập thông tin về tiền sử bệnh, loại cơn động kinh, liệu pháp điều trị và các biến số khác. Quy trình thực hiện được tiêu chuẩn hoá để đảm bảo tính nhất quán. Các nhà phỏng vấn được đào tạo chuyên sâu về trắc nghiệm tâm lýcác đặc điểm lâm sàng của bệnh động kinh.

IV. Ý nghĩa và ứng dụng của nghiên cứu đặc điểm trí nhớ ở trẻ động kinh

Việc đánh giá chi tiết các đặc điểm trí nhớ lời của trẻ động kinh thông qua luận án Tiến sĩ này có ý nghĩa lâm sàn quan trọng. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu cơ sở để tâm lý gia, giáo viên và phụ huynh hiểu rõ hơn về khả năng nhận thức của trẻ mắc bệnh này. Ứng dụng thực tiễn bao gồm xây dựng chương trình can thiệp tâm lý, điều chỉnh phương pháp giáo dục phù hợp với khả năng trí nhớ của từng trẻ. Kết quả có thể hỗ trợ chẩn đoán sớm các rối loạn nhận thức liên quan bệnh động kinh, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sốngkết quả học tập của trẻ em.

4.1. Ứng dụng trong can thiệp tâm lý và giáo dục

Kết quả đánh giá trí nhớ lời giúp xây dựng chiến lược can thiệp cá nhân hóa cho từng trẻ động kinh. Giáo viên và phụ huynh có thể điều chỉnh phương pháp dạy học dựa trên đặc điểm trí nhớ cụ thể. Chương trình can thiệp tâm lý có thể tập trung vào cải thiện khả năng ghi nhớ, học tậpthích ứng xã hội.

4.2. Đóng góp cho phát triển tâm lý lâm sàn trẻ em

Luận án Tiến sĩ này góp phần bổ sung kiến thức về tâm lý lâm sàn trẻ em ở Việt Nam. Công cụ trắc nghiệm CVLT phiên bản Việt được chuẩn hoá sẽ hỗ trợ các chuyên gia tâm lý trong đánh giá và chẩn đoán. Kết quả nghiên cứu có thể mở ra hướng nghiên cứu mới về can thiệp nhận thức cho trẻ mắc bệnh lý thần kinh.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TRÍ NHỚ LỜI Ở TRẺ ĐỘNG KINH 1. Các nghiên cứu về vấn đề suy giảm chức năng nhận thức ở trẻ động kinh 1. Nghiên cứu về suy giảm chức năng nhận thức ở trẻ động kinh Động kinh là một trong những bệnh thần kinh mãn tính phổ biến và được đặc trưng bởi các cơn động kinh gây ra các hậu quả về sinh học thần kinh, tâm lý, nhận thức và xã hội (Fisher và cs, 2014). Nghiên cứu cho thấy chứng động kinh có ảnh hưởng lâu dài đến lối sống của những người mắc chứng động kinh và gia đình của họ, do đó chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng (Tri và cs, 2017).

Nghiên cứu trên chức năng nhận thức ở trẻ động kinh ghi nhận có rối loạn nhận thức, người ta cũng cho rằng những cơn co giật có thể là nguyên nhân gây ra những xáo trộn trong não, tổn thương tế bào thần kinh và dẫn đến khuyết tật thần kinh tích lũy (cumulative neuropsychological disabilities). Các nghiên cứu tâm lý thần kinh ở người động kinh cho thấy có sự suy giảm khả năng chú ý, trí nhớ, ngôn ngữ và tốc độ xử lý thông tin. Những suy giảm về khả năng nhận thức được cho là những nguyên nhân dẫn đến hiệu xuất kém hơn ở trẻ động kinh trong các khó khăn về học tập như đọc, đánh vần, học số và hiểu (Henkin và cs, 2005). Một số nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa cơn động kinh và chức năng nhận thức ở trẻ động kinh, một số nghiên cứu khác thì không tìm thấy mối liên hệ (Kernan và cs, 2012).

Sự suy giảm nhận thức thường gặp ở trẻ động kinh, trẻ có trí thông minh dưới 70 ước tính chiếm khoảng 20 – 30% trong nhóm trẻ động kinh. Các yếu tố được cho là có liên quan độc lập đến sự phát triển nhận thức của trẻ động kinh bao gồm tuổi khởi phát, bệnh động kinh tổn thương, những bệnh não do động kinh và việc có tiếp tục điều trị bằng thuốc hay không (Chan & Elliott, 2011). Nghiên cứu trên nhóm trẻ động kinh cho thấy hiệu suất tích trên bài trắc nghiệm về sự chú ý (cụ thể ở đây là sự bốc đồng và thiếu chú ý) thấp hơn trung bình của nhóm đối chứng; ngoài ra có sự thiếu hụt chức năng điều hành trong các nhóm động kinh khác nhau như lập kế hoạch, giải quyết vấn đề. Bên cạnh đó, trẻ động kinh còn thể hiện kỹ năng thích ứng kém hơn so với nhóm đối chứng.

Có mối tương quan chặt chẽ giữa chức năng điều hành 10 và chức năng thích ứng ở trẻ động kinh (Culhane-Shelburne và cs, 2002). Nghiên cứu của Henkin và cộng sự (2005) đánh giá sự chú ý lời và không lời ở trẻ động kinh cho thấy kết quả kém hơn đáng kể so với nhóm đối chứng, đánh giá ảnh hưởng của các kiểu co giật trong các nhóm động kinh đều cho thấy kết quả tương tự nhau và đều kém hơn so với nhóm đối chứng. So sánh giữa nhóm động kinh vắng ý thức ở trẻ nhỏ (Childhood absence epilepsy) và nhóm động kinh cục bộ phức tạp (Complex partial seizures) cho thấy hai nhóm không có sự khác biệt về chức năng nhận thức tổng quát nhưng khác nhau trong các lĩnh vực nhận thức cụ thể như chức năng điều hành, trí nhớ lời nói và trí nhớ hình ảnh; cả hai nhóm đều có kết quả kém hơn về chức năng điều hành, cụ thể ở đây là về sự chú ý trên trắc nghiệm Stroop Color-Word, Wisconsin Card Sorting, Khoảng nhớ xuôi (Digits Forward) và Khoảng nhớ ngược (Digits Backward) khi so sánh với nhóm đối chứng (Kernan và cs, 2012). Như vậy, những nghiên cứu về chức năng nhận thức ở trẻ động kinh đều cho thấy có sự suy giảm trên các chức năng nhận thức như trí nhớ, chức năng điều hành, cụ thể là sự chú ý, lập kế hoạch, giải quyết vấn đề.

Nghiên cứu về trí nhớ lời ở trẻ động kinh Để nghiên cứu về trí nhớ lời ở trẻ động kinh, các nhà nghiên cứu thực hiện đánh giá trí nhớ lời, việc đánh giá này để giúp mô tả đặc điểm lâm sàng suy giảm chức năng trí nhớ trên nhóm trẻ lâm sàng và có sự can thiệp điều trị tích cực, phù hợp (Chử Văn Dũng và Nguyễn Văn Hướng, 2021). Nghiên cứu cho thấy suy giảm trí nhớ lời có ảnh hưởng đến các chức năng nhận thức khác và chất lượng học tập của trẻ động kinh (Chapieski và cs, 2011). Nghiên cứu cho thấy trí nhớ lời, chỉ số trí thông minh, chức năng điều hành, chức năng cảm xúc và thích ứng hành vi đều có tương quan ý nghĩa với chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe (Health-Related Quality of Life) ở trẻ động kinh, cụ thể trí nhớ lời thấp dẫn đến nguy cơ chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe thấp gấp 2 lần, cả trí nhớ lời thấp và khó khăn về hành vi và cảm xúc dẫn đến nguy cơ chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe gấp 17 lần. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của trí nhớ ở trẻ động kinh trong các biến số tâm lý thần kinh khác (Hrabok và cs, 2013).

Nghiên cứu trí nhớ lời của trẻ động kinh tổng quát vô căn (idiopathic generalized epilepsi) được kiểm soát các cơn co giật, 11 nhóm trẻ co giật trương lực toàn thân (generalized tonic–clonic seizures) và nhóm động kinh vắng ý thức (absence seizures) với trí thông minh trong giới hạn bình thường, kết quả cho thấy nhóm trẻ động kinh tổng quát vô căn có kết quả kém hơn đáng kể trong các bài kiểm tra sự chú ý không lời và chú ý có lời, khả năng học và trí nhờ lời, sự lưu loát lời nói. Trong đó, nhóm trẻ động kinh vắng ý thức có biểu hiện kém về khả năng học bằng lời nói so với nhóm trẻ co giật trương lực toàn thân (Henkin và cs, 2005). Kết quả hiệu suất trí nhớ lời của các nhóm trẻ động kinh dựa trên trắc nghiệm trí nhớ lời California cho thấy có sự kém hơn đáng kể so với nhóm đối chứng, khả năng truy xuất tích cực (active retrieval) (được tính toán bằng lấy điểm nhận diện trừ đi điểm nhớ trì hoãn) trên nhóm trẻ động kinh tổng quát vô căn kém hơn đáng kể so với nhóm đối chứng, ngoài ra hiệu suất của bài kiểm tra phụ về độ trôi chảy của từ (phân loại và ngữ âm) cũng kém hơn so với nhóm chứng (Henkin và cs, 2005). Nghiên cứu trên việc học và truy xuất bằng lời, việc sử dụng các chiến lược học tập trên nhóm trẻ động kinh lành tính với các gai nhọn vùng trung tâm – thái dương (Benign epilepsy of childhood with centrotemporal spikes) bằng trắc nghiệm California phiên bản trẻ em cho thấy trẻ động kinh có sức chứa dữ liệu học tập bằng lời thấp hơn và điểm sử dụng chiến lược học tập theo nhóm ngữ nghĩa thấp hơn so với nhóm đối chứng; nhóm trẻ động kinh sau 20 phút trì hoãn có dấu hiệu giảm sử dụng nhóm ngữ nghĩa khi nhớ lại dữ liệu, trong khi hiệu suất nhớ tự do ngắn hạn và nhớ tự do dài hạn vẫn giữ nguyên.

Ở nhóm trẻ động kinh nhỏ tuổi hơn thì việc sử dụng chiến lược phân cụm ngữ nghĩa kém hơn; nhưng lại không có sự khác biệt giữa việc sử dụng chiến lược phân cụm ngữ nghĩa ở nhóm trẻ động kinh và nhóm đối chứng trên 10 tuổi (Vago và cs, 2008). Những ảnh hưởng của thiếu hụt trí nhớ lời trong việc truy xuất, lưu giữ tài liệu bằng lời nói, phù hợp với những giả thuyết đã đưa ra trước đó về tình trạng thiếu hụt trí nhớ ở bệnh nhân động kinh do liên quan đến khả năng hợp nhất dấu vết trí nhớ từ trí nhớ ngắn hạn sang trí nhớ dài hạn. Sự thiếu hụt trí nhớ ở trẻ động kinh được quan sát thấy trong giai đoạn học tập, giai đoạn nhớ lại tức thì và giai đoạn trì hoãn (Henkin và cs, 2005). Những nghiên cứu trước đây ở trẻ động kinh lành tính với các gai nhọn vùng trung tâm – thái dương (BECTS) cho thấy có sự suy giảm đáng kể các chức năng của 12 thùy trán, điều đó lý giải cho các nhiệm vụ liên quan đến thùy trán như sự chú ý, chiến lược học tập, tổ chức phản ứng, kiểm soát xung động và bốc đồng, tiếp cận với các chiến lược từ vựng về mặt tinh thần.

Điều này cũng lý giải cho việc trẻ động kinh kém hơn trong việc sử dụng các chiến lược học tập hiệu quả hơn; trẻ động kinh có sự khiếm khuyết hơn trong khía cạnh tổ chức và sử dụng chiến lược cho việc học và ghi nhớ bằng lời nói (Vago và cs, 2008). Nghiên cứu trước đó đã cho thấy trí nhớ lời ở trẻ động kinh bị ảnh hưởng xấu nhưng không phải ở tất cả các trẻ bị động kinh, sự chú ý bằng lời nói (khoảng chữ số) dùng để dự đoán sự khác biệt đáng kể về khả năng ghi nhớ hàng ngày trong bệnh động kinh ở trẻ em, yếu tố chú ý thính giác phản ánh về tính toàn vẹn của quá trình xử lý bằng lời nói, và như một tiền đề cho việc học tiếp theo sau đó. Trắc nghiệm trí nhớ lời California phiên bản dành cho trẻ em đã được sử dụng để xem xét kỹ hơn ảnh hưởng của sự chú ý đến việc lưu giữ thông tin bằng lời nói ở trẻ mắc chứng động kinh, kết quả cho thấy đây là một yếu tố quan trọng quyết định hiệu suất ghi nhớ bằng lời nói, kết quả cũng hỗ trợ giải thích hiệu suất của trắc nghiệm trí nhớ lời California ở trẻ bị động kinh theo mô hình 5 yếu tố của Donders (Griffiths và cs, 2006). Như vậy, các nghiên cứu trước đây về trí nhớ lời ở trẻ động kinh nhìn chung đều cho thấy nhóm trẻ này có nhiều khó khăn hơn so với nhóm trẻ bình thường trong việc ghi nhớ, tổ chức và truy xuất thông tin ngôn ngữ.

Đặc biệt, nhiều nghiên cứu đã ghi nhận rằng trẻ động kinh thường có hiệu suất thấp hơn trong các bài đánh giá trí nhớ lời tiêu chuẩn. Chẳng hạn, nghiên cứu của Vago và cộng sự (2008) đã phân tích sâu đặc điểm trí nhớ lời ở nhóm trẻ mắc động kinh lành tính với các gai nhọn vùng trung tâm–thái dương (BECTS) dưới 10 tuổi, và phát hiện rằng nhóm này gặp khó khăn trong việc sử dụng các chiến lược học tập tối ưu để tăng khả năng lưu trữ thông tin ngôn ngữ. Trong khi đó, ở nhóm trẻ trên 10 tuổi, sự khác biệt trong việc sử dụng chiến lược phân cụm ngữ nghĩa giữa nhóm động kinh và nhóm đối chứng lại không rõ rệt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ