Tổng quan nghiên cứu

Khu vực đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với tình trạng khan hiếm cát xây dựng nghiêm trọng trong bối cảnh hàng loạt dự án hạ tầng giao thông và đô thị quy mô lớn đồng loạt triển khai. Vùng biển ven bờ tỉnh Sóc Trăng với đường bờ biển dài 90 km, chịu tác động trực tiếp từ 3 cửa sông lớn gồm cửa Định An, cửa Trần Đề và cửa Mỹ Thạnh. Hàng năm, hệ thống sông Mê Công vận chuyển hơn 100 triệu tấn trầm tích ra biển Đông, trong đó riêng hai cửa Trần Đề và Định An tiếp nhận và bồi tụ khoảng 30 triệu tấn bùn cát, chiếm tới 30% tổng lượng phù sa của toàn bộ lưu vực sông.

Nghiên cứu này tập trung vào lớp trầm tích tầng mặt đáy biển từ mức 0 đến 30 m nước, giới hạn trong phạm vi tọa độ địa lý từ 8°40'05" đến 9°33'48" vĩ độ Bắc và từ 105°50'00" đến 106°49'52" kinh độ Đông. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là làm sáng tỏ đặc điểm thành phần thạch học, phân loại cấp hạt, làm rõ quy luật phân bố không gian của trầm tích tầng mặt, đồng thời xác lập cơ sở khoa học để đánh giá triển vọng khoáng sản cát làm vật liệu xây dựng.

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học sâu sắc trong việc hoàn thiện mô hình thạch động lực vùng biển cửa sông nhiệt đới. Về mặt thực tiễn, luận văn cung cấp các dữ liệu định lượng phục vụ công tác quy hoạch khai thác tài nguyên khoáng sản biển, đáp ứng nhu cầu vật liệu cho các công trình trọng điểm như Trung tâm Nhiệt điện Long Phú có tổng vốn đầu tư hơn 5.000 tỷ đồng và dự án cảng biển nước sâu Trần Đề phục vụ tàu trọng tải trên 1.000 tấn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết trầm tích học động lực biển nông và mô hình tiến hóa châu thổ Holocen trong mối tương tác giữa dòng chảy sông ngòi và thủy triều. Cơ sở phân loại trầm tích cơ học bở rời tầng mặt dựa trên biểu đồ phân loại của Cục Địa chất Hoàng gia Anh (phân loại Folk cải tiến), bao gồm 15 kiểu trầm tích chính và 9 kiểu trầm tích phụ. Thang phân cấp độ hạt được chuẩn hóa theo thang phi với các giá trị từ nhỏ hơn âm 1 phi đối với cấp hạt sạn đến lớn hơn 4 phi đối với cấp hạt bùn sét.

Trong khuôn khổ nghiên cứu, các khái niệm then chốt được xác định rõ:

  • Trầm tích tầng mặt: Lớp vật liệu vụn cơ học bở rời trên cùng của đáy biển có bề dày ổn định từ 20 cm đến hàng mét dưới điều kiện thủy động lực hiện đại.
  • Kích thước hạt trung bình (Md) và độ chọn lọc (So): Các chỉ số phản ánh mức độ đồng đều và năng lượng của môi trường vận chuyển, lắng đọng.
  • Hệ số bất đối xứng (Sk): Tham số chỉ thị xu hướng chiếm ưu thế của cấp hạt thô hoặc hạt mịn trong mẫu.
  • Trầm tích sót tái tích tụ: Các thể địa chất cát sạn hình thành trong các đợt biển tiến hoặc lòng sông cổ tuổi Pleistocen muộn đến Holocen sớm - giữa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực tế được thu thập qua mạng lưới hơn 120 trạm khảo sát ngoài khơi kết hợp các tuyến lộ trình bãi triều ven bờ thuộc dự án điều tra tỷ lệ 1:100.000 thực hiện trong giai đoạn 2006-2009. Cỡ mẫu được phân bổ đồng đều theo mạng lưới ô vuông đo đạc địa vật lý đáy biển, cho phép bao quát toàn diện các đới địa hình từ 0 đến 30 m nước. Phương pháp chọn mẫu tầng mặt sử dụng cuốc ngoạm đại dương và ống phóng trọng lực nhằm bảo đảm cấu trúc nguyên dạng của lớp trầm tích mặt đáy.

Phương pháp phân tích thạch học trong phòng thí nghiệm áp dụng kỹ thuật rây cơ học đối với cấp hạt thô trên 0,063 mm và phương pháp lắng pipet đối với cấp hạt mịn dưới 0,063 mm. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đạt độ chính xác tối ưu cho trầm tích hỗn hợp ven biển nhiệt đới. Dữ liệu địa vật lý bao gồm các tuyến địa chấn nông phân giải cao (tuyến Tu07, Tu08, Tu09) và Sonar quét sườn (tuyến 32, 33, 35) được giải đoán đồng bộ để xác định bề dày tầng cát dao động từ 2 đến 10 m, đồng thời phân tích các chỉ tiêu hóa lý môi trường như độ pH, chỉ số oxy hóa khử Eh và hàm lượng carbonat hữu cơ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Công trình nghiên cứu đã phát hiện và phân chia chi tiết 17 kiểu trầm tích tầng mặt đáy biển ven bờ Sóc Trăng. Phân bố trầm tích thể hiện tính phân dị không gian rõ nét qua các số liệu định lượng:

  • Đới ven bờ từ 0 đến 20 m nước: Chiếm ưu thế bởi trầm tích hạt mịn như bùn cát, bùn sét và cát bột. Tại khu vực cửa sông bồi tụ, thành phần bùn sét chiếm tỷ lệ cao từ 6,88% đến 16,56%, bột từ 9,82% đến 31,89%, hình thành dải tích tụ phù sa hiện đại dày từ 4 đến 5 m.
  • Đới ngoài khơi từ 20 đến 30 m nước: Xuất hiện các trường trầm tích hạt thô chiếm ưu thế gồm cát, cát lẫn sạn, cát sạn và sạn cát. Hàm lượng cấp hạt cát thạch anh trong đới này chiếm tỷ lệ từ 51,54% đến 83,3%, độ chọn lọc đạt mức khá đến tốt với hệ số So dao động từ 1,08 đến 1,41, kích thước hạt trung bình Md đạt từ 0,14 đến 0,34 mm.
  • Xác định 5 diện tích cồn cát ngầm và lòng sông cổ tuổi Holocen sớm - giữa (mã hiệu a1, b2, b3, b4, b5) với quy mô diện tích từ 50 đến 150 km2 mỗi thể địa chất, chiều dày lớp cát sạn sạch dao động từ 2 đến 10 m, tạo thành các mỏ cát vật liệu xây dựng tiềm năng lớn.

Thảo luận kết quả

Quy luật phân bố trầm tích tầng mặt tại Sóc Trăng phản ánh sự tương tác phức tạp giữa chế độ thủy văn sông Hậu và động lực biển Đông. Lưu lượng dòng chảy mùa lũ của sông Hậu đạt trên 7.000 m3/s kết hợp chế độ bán nhật triều có biên độ 3 đến 4 m tạo vận tốc dòng triều từ 1,5 đến 3,0 hải lý/giờ. Nguồn bùn cát mịn lơ lửng được dòng chảy đẩy ra biển, sau đó dưới tác động của sóng gió mùa Đông Bắc chiếm tần suất 75% đến 85% với chiều cao sóng từ 2,0 đến 3,5 m đã ép dạt các cấp hạt mịn lắng đọng dải ven bờ ở độ sâu dưới 20 m nước.

Ngược lại, ở độ sâu ngoài 20 m nước, năng lượng thủy động lực hiện đại không đủ để vận chuyển lượng bùn mịn ra xa, giúp phơi lộ các cồn cát ngầm và sóng cát cổ tuổi Holocen sớm - giữa. Thành phần cát tại đây có độ mài tròn tốt, hàm lượng vụn vỏ sò ốc chiếm từ 20% đến 31% và thạch anh đạt trên 42%.

Các dữ liệu phân bố cấp hạt này có thể được biểu diễn một cách trực quan thông qua biểu đồ tam giác Folk ba cực (Sạn - Cát - Bùn) và bảng tổng hợp đa biến liên kết độ sâu địa hình (0-5 m, 5-20 m, 20-30 m) với các thông số thạch học Md, So, Sk. Cách tiếp cận này giúp so sánh trực tiếp với các bồn trũng trầm tích kế cận như bồn Cửu Long và đới nâng Côn Sơn, khẳng định nguồn gốc cát đáy biển ngoài khơi Sóc Trăng là trầm tích tướng sông - biển cổ bị ngập chìm trong các đợt biển tiến Đệ tứ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khoáng sản cát đáy biển và bảo đảm an toàn sinh thái bờ biển, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất:

  1. Triển khai công tác khoan thăm dò chi tiết cấp trữ lượng 122: Tổ chức mạng lưới khoan thăm dò tỷ lệ 1:25.000 tại các phân vùng tiềm năng b2 và b4 ở độ sâu 20 đến 28 m nước nhằm xác định trữ lượng thương phẩm đạt mục tiêu trên 50 triệu m3 cát xây dựng đạt chuẩn kỹ thuật trong giai đoạn 2026-2028, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sóc Trăng chủ trì phối hợp với Liên đoàn Địa chất biển.
  2. Ban hành quy chế khai thác khoáng sản biển bền vững: Giới hạn vùng khai thác cát chỉ được phép thực hiện ở khoảng cách cách đường bờ tối thiểu 15 km và độ sâu lớn hơn 20 m nước nhằm giảm thiểu 100% nguy cơ sạt lở đê biển và bảo vệ trọn vẹn 90 km dải rừng ngập mặn Cù Lao Dung trong lộ trình 2026-2030, do Ủy ban Nhân dân tỉnh Sóc Trăng ban hành.
  3. Ứng dụng công nghệ hút rửa và khử mặn cát biển chuyên dụng: Đầu tư hệ thống tuyển rửa ion clorua trên tàu tự hành nhằm hạ nồng độ muối xuống dưới 0,05%, chuyển hóa cát biển thành cát bê tông mác 300+ với công suất chế biến 2 triệu m3/năm từ năm 2027, do các doanh nghiệp khai thác khoáng sản triển khai.
  4. Thiết lập mạng lưới quan trắc biến động đáy biển và dòng bùn cát tự động: Lắp đặt 5 trạm quan trắc hải văn tự động tại khu vực cửa Trần Đề và luồng Định An nhằm đo đạc định kỳ 6 tháng một lần mức độ bồi lắng luồng tàu tải trọng 1.000 tấn trong giai đoạn 2026-2030, do Bộ Giao thông Vận tải phối hợp cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và ứng dụng thực tiễn giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường biển: Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh ven biển Nam Bộ và Cục Địa chất Việt Nam sử dụng bản đồ phân vùng trầm tích để xây dựng quy hoạch cấp phép thăm dò khoáng sản rắn thềm lục địa đến năm 2030.
  2. Doanh nghiệp khai thác vật liệu xây dựng và nhà thầu hạ tầng: Các tổng công ty xây dựng giao thông sử dụng tọa độ địa lý 4 điểm ranh giới và thông số chiều dày tầng cát từ 2 đến 10 m để lập dự án khai thác mỏ phục vụ tuyến cao tốc Châu Đốc - Cần Thơ - Sóc Trăng và dự án Cảng nước sâu Trần Đề.
  3. Nhà khoa học, giảng viên và học viên sau đại học chuyên ngành Địa chất: Các viện nghiên cứu sử dụng hệ thống dữ liệu 17 kiểu trầm tích và mặt cắt địa chấn phân giải cao làm cơ sở đối sánh địa tầng Đệ tứ và giảng dạy chuyên đề trầm tích học biển nông.
  4. Đơn vị quy hoạch và thiết kế công trình hàng hải: Các kỹ sư công trình thủy tham khảo số liệu vận chuyển 30 triệu tấn bùn cát hàng năm để tối ưu hóa thiết kế luồng tàu và công trình chỉnh trị cửa sông Định An - Trần Đề.

Câu hỏi thường gặp

Trầm tích tầng mặt vùng biển ven bờ Sóc Trăng có đặc trưng nổi bật nào? Đáy biển Sóc Trăng được cấu thành bởi 17 kiểu trầm tích vụn cơ học bở rời với sự phân hóa rõ rệt. Vùng ven bờ từ 0 đến 20 m nước bị chi phối bởi bùn sét và bùn cát mịn hiện đại từ sông Hậu, trong khi vùng ngoài khơi từ 20 đến 30 m nước lộ ra các trường cát sạn thô sạch với tỷ lệ cát đạt từ 51,54% đến 83,3%.

Vì sao cát hạt thô lại phân bố tập trung ở đới độ sâu từ 20 đến 30 mét nước? Đây là các thể cồn cát ngầm và lòng sông cổ hình thành trong thời kỳ biển tiến Holocen sớm - giữa cách đây hàng ngàn năm. Do nằm ngoài phạm vi bồi tụ của dòng bùn mịn ven bờ (giới hạn ở mức 18-20 m nước) và năng lượng sóng đáy không làm dịch chuyển hạt thô, các thân cát này được bảo tồn nguyên vẹn dạng trầm tích sót.

Chất lượng cát biển ngoài khơi Sóc Trăng có đáp ứng tiêu chuẩn làm vật liệu xây dựng không? Cát tại các đới cồn ngầm ngoài 20 m nước có kích thước hạt trung bình Md từ 0,14 đến 0,34 mm, độ chọn lọc tốt (So từ 1,08 đến 1,41) và hàm lượng khoáng vật thạch anh bền vững trên 42%. Sau khi qua xử lý rửa mặn để giảm ion clo xuống dưới 0,05%, nguồn cát này hoàn toàn đáp ứng các tiêu chuẩn cát xây dựng và bê tông hiện hành.

Việc khai thác cát ngoài độ sâu 20 mét có gây sạt lở bờ biển Sóc Trăng không? Khai thác ngoài mức 20 m nước và cách bờ trên 15 km hầu như không tác động tiêu cực đến chế độ động lực ven bờ. Độ sâu 20 m là ranh giới ngoài của đới sóng vỡ và đới cân bằng bùn cát hiện đại, do đó việc nạo vét cát sót ở vùng nước sâu không làm suy giảm nguồn cấp phù sa cho dải bờ dài 90 km.

Phương pháp nào mang lại độ tin cậy cao nhất trong việc khoanh định ranh giới các trường cát đáy biển? Nghiên cứu đạt độ chính xác cao nhờ tích hợp đồng bộ giữa phương pháp phân tích cấp hạt theo biểu đồ Folk cải tiến với công nghệ địa chấn nông phân giải cao (các tuyến Tu07, Tu08, Tu09) và Sonar quét sườn, giúp bóc tách ranh giới và xác định chuẩn xác bề dày thân cát từ 2 đến 10 m.

Kết luận

  • Phân lập và thành lập bản đồ phân bố chi tiết cho 17 kiểu trầm tích tầng mặt tại vùng biển ven bờ Sóc Trăng từ 0 đến 30 m nước.
  • Chứng minh quy luật phân dị thạch động lực rõ nét giữa đới bùn mịn ven bờ (0-20 m nước) và đới cát thô sót cổ ngoài khơi (20-30 m nước).
  • Khoanh định 5 phân vùng cồn cát ngầm và lòng sông cổ tuổi Holocen sớm - giữa có quy mô từ 50 đến 150 km2 với bề dày cát đạt 2 đến 10 m.
  • Xác lập cơ sở khoa học tin cậy khẳng định tiềm năng hàng chục triệu mét khối cát biển phục vụ các công trình xây dựng trọng điểm vùng Tây Nam Bộ.
  • Đề xuất hoàn chỉnh lộ trình thăm dò chi tiết và giải pháp khai thác bền vững cách bờ trên 15 km trong giai đoạn 2026-2030.

Công trình luận văn là tài liệu tham khảo thiết yếu cho các cơ quan quản lý, nhà thầu xây dựng và giới học thuật quan tâm đến địa chất biển và kinh tế khoáng sản. Quý độc giả và các đơn vị chuyên môn nên tiếp cận toàn văn luận văn để khai thác chi tiết các thông số kỹ thuật và hệ thống bản đồ phục vụ công tác nghiên cứu và triển khai dự án thực tế.