Chương 1 THỜI ĐẠI LÝ – TRẦN VÀ PHẬT HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG 1. Thời đại Lý – Trần 1. Hoàn cảnh lịch sử, văn hóa – xã hội thời Lý – Trần Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 đã đưa đất nước ta thoát khỏi ách đô hộ hơn 1000 năm của phong kiến phương Bắc, bước đầu thiết lập nhà nước quân chủ độc lập và chuyển sang một giai đoạn mới: thời trung đại. Các triều đại phong kiến ra đời, ngày càng phát triển hùng mạnh.
Các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê đã dần dần củng cố và hoàn thành thống nhất quốc gia. Những thành tựu phục hồi và bước đầu xây dựng kinh tế – văn hóa Đại Cồ Việt của nhà Đinh và nhà Tiền Lê đã tạo thành những nền tảng cơ bản cho hai vương triều Lý, Trần xây dựng nhà nước độc lập và đưa nước Đại Việt phát triển đến đỉnh cao trong lịch sử dân tộc. Có thể nói thời đại Lý – Trần là thời đại hào hùng, oanh liệt và rực rỡ nhất trong lịch sử nước nhà. Trước hết, thời Lý – Trần là thời đại phục hưng, phát triển, ổn định và thống nhất đất nước.
Ngay khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã quyết định dời đô từ vùng đất Hoa Lư về Đại La (1010) và đặt tên kinh đô mới là Thăng Long. Quyết định dời đô về Thăng Long cho thấy đất nước đã ổn định và phát triển, địa thế núi non hiểm trở để phòng ngự ở Hoa Lư tỏ ra nhỏ hẹp, không còn thích hợp để đóng đô mà thế đô phải là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước. Với những yêu cầu mới trước sự vững mạnh của đất nước, Thăng Long “xứng đáng là đế đô muôn đời cho con cháu mai sau” [1, tr. Cùng với việc dời đô, vua Lý Thái Tổ đã đổi tên nước là Đại Việt.
Đây là niềm tự hào của cả đất nước, và nó đã trở thành quốc hiệu được sử dụng lâu dài trong lịch sử của chế độ phong kiến ở nước ta dưới thời trung đại. Để củng cố triều đại, nhà Lý bắt đầu xây dựng một triều đình theo lối chính qui. Đứng đầu là vua với danh xưng Hoàng đế. Vua giữ quyền quyết định trong tất cả mọi việc.
Bên cạnh nhà vua còn có các quan văn, quan võ. Để giúp vua 13 phụ trách các mặt về chính trị, quân sự, nhà vua đã đặt thêm một số cơ quan chuyên trách. Đến triều Trần, bộ máy nhà nước trung ương tập quyền được tăng cường về mọi mặt. Nhà Trần cũng đặt thêm nhiều cơ quan chuyên trách mới để đáp ứng những yêu cầu cho việc phát triển bộ máy hành chính.
Các vua Trần đặt ra lệ nhường ngôi sớm cho con, tự xưng là Thái thượng hoàng, cùng con trông nom việc nước để tập dượt cho vua con quen dần với việc trị nước. Đây là điều hoàn toàn khác với triều Lý. Nhìn chung, bộ máy quan lại của nhà Trần cũng gồm có ba bậc như thời Lý nhưng có qui củ và đầy đủ hơn. Có một điều đặc biệt và khác với thời Lý là các chức quan cao cấp ở thời Trần đều nằm trong tay của giới quí tộc tôn thất nhà Trần.
Để giữ vững triều đình, hai triều Lý, Trần rất quan tâm đến phương diện lập pháp. Nhà Lý có bộ Hình thư, nhà Trần có Quốc triều thống chế và Hình luật thư. Pháp luật thời Trần chủ yếu dựa trên pháp luật của thời Lý, nhưng có bổ sung thêm một số yếu tố để đề cao uy quyền của nhà vua và địa vị thống trị. Vì vậy, so với pháp luật thời Lý, pháp luật thời Trần hoàn chỉnh, qui củ và nghiêm khắc hơn.
Tiếp nối sự nghiệp thống nhất dân tộc của các triều đại trước, thời Lý – Trần, triều đình rất chú ý quan tâm đến các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc vùng biên giới tiếp giáp với Trung Quốc, đưa ra nhiều biện pháp nhằm củng cố khối đoàn kết dân tộc và thống nhất quốc gia. Mặc dù đất nước đã được độc lập nhưng nguy cơ ngoại xâm vẫn còn vì bọn phương Bắc luôn luôn dòm ngó. Do đó, để củng cố nền thống trị và sẵn sàng ứng phó với nạn ngoại xâm, việc xây dựng quân đội rất được nhà nước chú trọng. Quân đội được chia làm hai loại: quân cấm vệ và quân các lộ.
Khi có chiến tranh, nhà nước sẽ tuyển lính dựa vào sổ quân, khi hòa bình thì quân lính được luân phiên nhau về làm ruộng và ở lại quân ngũ để canh gác. Đây là chính sách “ngụ binh ư nông” có cơ sở từ thời Tiền Lê và được hoàn chỉnh ban hành dưới hai triều Lý, Trần. Dưới thời Trần, quân đội chủ yếu được xây dựng theo phương châm “quân cốt tinh nhuệ, chứ không cốt nhiều”, tức là chú ý đến chất lượng hơn là số lượng, trang bị cũng đầy 14 đủ hơn so với thời Lý: ngoài gươm, giáo, còn có cả súng ống. Nhìn chung, quân đội đạt trình độ huấn luyện và tổ chức khá cao, trang bị cũng khá đầy đủ.
Bên cạnh việc xây dựng quân đội, nhà nước cũng rất chú trọng đến việc phát triển kinh tế, đặc biệt là phát triển nông nghiệp. Triều đình đã đề ra nhiều chính sách chăm lo phát triển nông nghiệp: tiến hành khẩn hoang, xây dựng các công trình thủy lợi với qui mô lớn; bảo vệ sức kéo và sức lao động trong nông nghiệp bằng cách cấm bán hoàng nam làm tư nô, trừng phạt nặng tội trộm cắp trâu bò và hạn chế việc giết thịt trâu bò để ăn; nông dân được nhận ruộng cày cấy, được giảm thuế vào những năm mất mùa. Với những chính sách khuyến nông như trên, sức sản xuất nông nghiệp có tiến bộ đáng kể. Ngoài việc trồng lúa, nhân dân còn trồng hoa màu khác, trồng dâu nuôi tằm, cây ăn quả phong phú.
Sản xuất thủ công nghiệp cũng có nhiều bước tiến bộ đáng kể, tuy nhiên vẫn còn sản xuất riêng lẻ theo lối cá thể. Nhà nước đã mở rộng việc giao lưu buôn bán giữa các vùng và thậm chí, mở rộng việc buôn bán với một số nước Ấn Độ, Malaixia, Trung Quốc,. Giao thông thuận lợi làm cho việc giao lưu buôn bán cũng khá phát triển. Kinh thành Thăng Long trở thành trung tâm thương nghiệp lớn.
Đặc biệt, nhà nước cho ban hành chế độ tiền tệ thống nhất nhằm đẩy mạnh trao đổi kinh tế. Với những chính sách tích cực trong phát triển kinh tế, nền kinh tế đã đạt được nhiều thành tựu. Sự phát triển về kinh tế không chỉ góp phần củng cố thêm cơ sở vật chất của Đại Việt, tăng thêm sức mạnh quốc phòng cho đất nước mà còn nâng cao đời sống nhân dân, khẳng định thêm sự vững mạnh, tự chủ của đất nước. Đây còn là thời đại của ý thức độc lập, tự chủ và đoàn kết toàn dân.
Đứng trước sự đe dọa của ngoại xâm, tinh thần dân tộc, ý thức về chủ quyền quốc gia, tinh thần đoàn kết quyết chiến bảo vệ đất nước được dâng cao. Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn chính là bản tuyên ngôn về chủ quyền của quốc gia và là lời hiệu triệu kêu gọi tinh thần đoàn kết chống giặc. Chính do nhu cầu về đoàn kết toàn dân để tạo nên sự vững mạnh 15 của quốc gia phong kiến độc lập mà các vua thời Lý – Trần đã thu phục được các thủ lĩnh của các dân tộc ít người, kêu gọi họ cùng góp sức đánh đuổi ngoại xâm. Cũng nhờ yêu cầu đoàn kết thống nhất, ý thức độc lập mà đời Trần mới có Hội nghị Bình Than (1282), Hội nghị Diên Hồng (1285) với tiếng hô đồng thanh “đánh” đầy quyết tâm, vang dội non sông, để làm nên những chiến công chấn động thế giới – ba lần đánh tan tác đạo quân xâm lược Nguyên – Mông khét tiếng hùng mạnh và tàn bạo đã tung hoành trên khắp hai lục địa Á – Âu vào các năm 1258, 1285, 1288.
Hào khí Đông A muôn đời bất diệt có được là nhờ âm hưởng của những chiến thắng trên và thắng lợi này là thành quả tất yếu của cuộc chiến tranh nhân dân. Với những chính sách đúng đắn và tích cực, với sự đoàn kết trên dưới một lòng, với tư tưởng từ bi bác ái của nhà Phật, hai triều đại Lý và Trần đã đem đến cho dân tộc Đại Việt một thời đại “khoan giản, an lạc, nhân thứ, rộng mở và dân chủ” [31, tr. Kinh tế phát triển, văn hóa được phục hưng làm cho nhân dân có đời sống vật chất tương đối đầy đủ và đời sống tinh thần giàu chất dân chủ mang hơi thở riêng của thời đại. Những con người tự tin, hào hùng, phóng khoáng và giàu lòng nhân ái sinh ra từ thời đại đã tiếp thu tinh hoa văn hóa của dân tộc và phát triển khởi sắc để tạo nên một nền văn hóa độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc.
Đó là những ông vua anh minh như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông,… Lý Thái Tông – một ông vua sáng suốt, yêu dân như con – không những không trị tội kẻ làm phản mà còn biết thu phục để họ đem hết tài sức trấn giữ vùng biên thùy của Tổ quốc. Trong những ngày đông giá rét, bản thân được ăn no mặc ấm, vua Lý Thánh Tông thương xót cho những tù nhân và đã sai phát chăn chiếu, cho họ ăn uống đầy đủ; gặp lúc đại hạn thì phát thóc và tiền lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo; vua còn khuyên các quan khi xử án cần khoan dung và giảm nhẹ hình phạt – “Ta yêu con ta cũng như lòng ta làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm 16 rất thương xót, từ này về sau không cứ gì tội nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm” [29, tr. Thượng hoàng Trần Thái Tông sai vua Trần Nhân Tông đốt tráp đựng thư hàng giặc của một số quan lại và quý tộc chỉ vì không muốn hỏi tội họ.
Còn vua Trần Nhân Tông thì nhường ngai vàng cho con để rồi trở thành một vị Thiền sư, chống gậy đi khắp nơi thuyết pháp, khuyên nhân dân làm điều thiện, xóa bỏ những hũ tục, sang Chiêm Thành để thắt chặt quan hệ hữu nghị giữa hai nước. Bên cạnh những bậc minh quân, thời đại này cũng xuất hiện nhiều vị tướng tài, không màng công danh phú quí, sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn. Có những vị tướng thà hi sinh chứ không chịu khuất phục, không chịu làm tay sai cho giặc để hưởng công danh phú quí như Trần Bình Trọng.