Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm so sánh và so sánh tu từ 1. Khái niệm so sánh Thực tế khi nhìn vào kho tàng về thành ngữ so sánh của mỗi dân tộc trên thế giới, mặc dù cùng một thành ngữ biểu hiện một nội dung ngữ nghĩa như nhau nhưng ở mỗi dân tộc lại sử dụng một hình ảnh hoàn toàn khác nhau. Những hình ảnh so sánh này gắn liền với quan điểm và văn hóa của từng dân tộc đó.
Ví dụ như nói về tính cách của con người là hiền lành thì người Việt cho rằng bụt mới hiền nên có thành ngữ “hiền như bụt”. Nhưng với người Anh thì họ lại cho rằng chim bồ câu mới hiền lành nhất nên mới so sánh “as gentle as pigeon” (hiền như chim bồ câu). Ngược lại, có trường hợp tương đồng về yếu tố chuẩn nhưng giá trị về ngữ nghĩa lại hoàn toàn khác nhau. Cần phân biệt so sánh tu từ với so sánh luận lí, bởi chúng đều là thao tác đối chiếu giữa hai hay nhiều đối tượng với nhau nhưng hai loại so sánh này lại có sự khác nhau về chất.
Nếu so sánh tu từ là sự đối chiếu giữa các đối tượng khác loại thì so sánh luận lí là sự đối chiếu giữa các đối tượng cùng loại. Nếu so sánh tu từ nhằm mục đích gợi lên một cách hình ảnh đặc điểm giữa các đối tượng từ đó tạo nên xúc cảm thẩm mĩ trong nhận thức của người tiếp nhận thì so sánh luận lí đơn thuần chỉ cho ta thấy sự ngang bằng hay hơn kém giữa các đối tượng đấy mà thôi. Ví dụ : So sánh tu từ So sánh luận lí - Ðôi ta như cá ở đìa - Khôi đã cao bằng mẹ. Ngày ăn tản lạc, tối dìa ngủ chung - Con hơn cha nhà có phúc.
- Ðứt tay một chút chẳng đau - Nam học giỏi như Bắc. Xa nhau một chút như dao cắt lòng Nói cách khác, so sánh tu từ khác với so sánh luận lý ở tính hình tượng, tính biểu cảm và tính dị loại của đối tượng. Chính do mục đích diễn tả một cách hình ảnh này mà so sánh tu từ ít nhiều đều “khập khiểng” và mang tính khoa trương. So sánh tu từ 1.
Khái niệm so sánh tu từ So sánh tu từ là phương thức ngữ nghĩa đuợc cấu tạo dựa trên quan hệ liên tưởng. Do hai quan hệ liên tưởng và kết hợp là chung cho mọi ngôn ngữ nên dân tộc nào cũng sử dụng so sánh tu từ trong diễn đạt. Tuy nhiên do sự khác nhau về cấu trúc ngôn ngữ (mỗi ngôn ngữ có những đặc điểm riêng về kết cấu ngữ âm, kết cấu từ vựng ngữ nghĩa, ngữ pháp), về “bức tranh thế giới”, “cách nhìn thế giới” nên rất ít khi có sự tương đồng hoàn toàn trong cách so sánh tu từ. Đã có rất nhiều tác giả đưa ra quan điểm riêng của mình khi nghiên cứu so sánh tu từ trong tiếng Việt, nhưng tất cả vẫn thống nhất một cách tương đối về cơ sở lý thuyết.
Để minh chứng rõ điều này, chúng ta có thể tham khảo một số định nghĩa của các tác giả tiêu biểu sau đây: Đầu tiên phải kể đến Đinh Trọng Lạc (ĐTL), là tác giả với nhiều công trình nghiên cứu khá nổi bật về biện pháp so sánh tu từ. Trong giáo trình 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, ông định nghĩa: “So sánh (còn gọi là so sánh hình ảnh hay so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực thể khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [15, tr. Cũng trong cuốn Từ điển Tu từ - Phong cách - Thi pháp học của chính tác giả (chủ biên) và Nguyễn Thái Hòa (NTH), định nghĩa: “So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức người đọc, người nghe” [14, tr. Hay Cù Đình Tú (CĐT) đã định nghĩa trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt như sau: “so sánh tu từ là một cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có cùng một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng” [47, tr.
Tác giả Hoàng Tất Thắng (HTT) trong Giáo trình phong cách học tiếng Việt quan niệm, “thực chất của so sánh tu từ là việc trực tiếp đối chiếu hai đối tượng có thuộc tính chung nào đó (thuộc tính giống nhau) nhằm biểu hiện một cách hình tượng phẩm chất bên trong của một đối tượng” [39, tr. 10 Như vậy có thể thấy, các quan niệm của các tác giả tiêu biểu trên đều thống nhất khi nêu ra bản chất của thao tác so sánh chính là “đối chiếu” (trong đó tác giả CĐT nhấn mạnh là “công khai đối chiếu” và tác giả HTT cũng cho là “trực tiếp đối chiếu”) những sự vật (ĐTL - NTH), đối tượng (các tác giả còn lại) có nét tương đồng nào đó (NTH) hay có cùng nét giống nhau (ĐTL), dấu hiệu chung (CĐT) nhằm tạo ra cách nói hình ảnh, hình tượng, biểu cảm về đối tượng. Các khái niệm trên về cơ bản đều có bản chất như nhau, song mỗi quan niệm vẫn thể hiện ý kiến riêng của từng cá nhân. Điều này được thể hiện: - Thứ nhất, về đối tượng được gọi tên trong hai vế: so sánh và được so sánh.
Nếu ĐTL và NTH gọi chúng là “sự vật” thì các tác giả khác vẫn gọi chúng là “đối tượng”. Cách gọi khác nhau như thế sẽ khó đảm bảo tính khái quát cho khái niệm. Có thể lý giải cụ thể rằng, yếu tố được so sánh không chỉ là những sự vật có tính chất hiện hữu hay vật chất cụ thể như hoa, lá, cây, cỏ… mà còn bao gồm cả những yếu tố chỉ hiện tượng như mưa, gió, nắng…; hay trạng thái của con người như buồn, vui, hạnh phúc, đau khổ…; hay những khái niệm trừu tượng như cuộc sống, tình yêu, con người… - Thứ hai, khi nói đến việc đối chiếu các đối tượng của phép so sánh, đồng thời để nhấn mạnh sự so sánh thì phải nói đến sự có mặt đầy đủ của cả hai yếu tố trong cấu trúc so sánh, đó là: yếu tố được so sánh và yếu tố chuẩn được so sánh. Quan điểm này được tác giả CĐT và HTT thể hiện khá rõ nét khi chú trọng đến tính “công khai” và ‘trực tiếp” của phép so sánh.
Điều này nhấn mạnh nhằm làm rõ sự khác nhau giữa so sánh với các phương tiện biểu hiện ngữ nghĩa như ẩn dụ, hoán dụ… vốn cũng được cấu tạo dựa trên quan hệ liên tưởng nhưng chỉ xuất hiện một vế, vế còn lại không hiện diện trên bề mặt câu chữ mà ẩn đằng sau cấu trúc của nó. Trong lúc đó, các tác giả còn lại chỉ đề cập sự đối chiếu một cách chung chung, không vạch ra ranh giới rõ ràng trong thao tác này đối với các phương tiện tu từ khác. - Thứ ba, về số lượng yếu tố trong CTSS, hai tác giả ĐTL và HTT chỉ nêu hai đối tượng tham gia vào phép so sánh, chẳng hạn như: …xe cộ và tiếng máy rậm rịch trên mặt sông phẳng lỳ như một cánh đồng…(Rằng bây giờ mói thấy đây, 25/4/2010, Tuổi trẻ). Trong lúc đó, hai tác giả còn lại lưu ý đến yếu tố “hai hoặc nhiều đối tượng”.
Thế nhưng thực tế cho thấy, phép so sánh không chỉ là sự đối 11 chiếu giữa hai đối tượng mà còn xuất hiện khá nhiều biểu thức so sánh có hơn hai đối tượng có mặt trong thao tác đối chiếu. Có thể thấy rõ điều đó qua biểu thức: Những anh hùng đánh Mỹ hôm nay Như Cửu Long mênh mông sóng nước Như Trường Sơn đông đặc rừng cây (Lê Anh Xuân) - Thứ tư, khi đề cập đến cơ sở so sánh thì ngoài tác giả NTH và CĐT, các tác giả còn lại cho rằng, số lượng nét tương đồng là “một nét giống nhau” (ĐTL), “một dấu hiệu chung” (CĐT). Với những quan điểm trên, theo chúng tôi là chưa đầy đủ bởi không phải sự so sánh nào cũng dựa trên cơ sở một nét tương đồng mà có khi phải sử dụng nhiều nét tương đồng. Vì thế để đảm bảo tính khái quát nên diễn đạt là có thuộc tính chung hoặc có ít nhất một thuộc tính chung.
Điều cuối cùng đó là ý nghĩa của so sánh tu từ, các tác giả cho rằng, so sánh tu từ nhằm “diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” (ĐTL); “gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức người đọc, người nghe” (NTH); “nhằm biểu hiện một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng” (BTT, CĐT). Đáng chú ý là quan điểm của tác giả NTH khi ông đã nêu được tác dụng của phép so sánh là “gợi ra những cảm xúc thẩm mỹ” cho người đọc, người nghe. Tuy nhiên, tác giả cũng chưa thật chính xác khi cho rằng, so sánh tu từ “gợi ra hình ảnh cụ thể”. Bởi vì, bên cạnh những biểu thức so sánh lấy cụ thể để miêu tả hình ảnh chưa cụ thể, thì có trường hợp ngược lại, lấy cái trìu tượng để giải thích cho cái cụ thể, chẳng hạn như: “Quê hương là chùm khế ngọt” (Đỗ Trung Quân) Theo quan niệm của chúng tôi, có thể chấp nhận so sánh tu từ chính là sự công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng có thuộc tính chung nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tượng.
Cấu trúc về so sánh tu từ * Cấu trúc hình thức và các yếu tố trong CTSS Cũng giống như khái niệm về so sánh tu từ, cấu trúc về so sánh tu từ cũng có nhiều quan nhiệm khác nhau. Chúng tôi có thể đưa ra một số mô hình CTSS điển hình của một số tác giả tiêu biểu: Theo Hoàng Văn Hành, cấu trúc logic của phép so sánh là “A t1 như B t2” và tác giả khẳng định: “trong cấu trúc ngôn ngữ của phép so sánh, t2 không bao 12 giờ xuất hiện dưới dạng hiển ngôn”. Vì thế, theo ông, mô hình tổng quát và đầy đủ của phép so sánh là “A t như B”. Khi đưa ra mô hình này, tác giả đã mâu thuẫn với chính mình vì tiếp trục ở đoạn dưới ông viết về loại thành ngữ có mô hình “như B” như sau: “xem ra những thành ngữ có cơ cấu nghĩa này thường là thành ngữ có vế B phức tạp về mặt cấu trúc”.