Ngôn ngữ đánh giá trong sách giáo khoa tiếng anh cấp trung học cơ sở tại việt nam dưới góc độ ngữ pháp chức năng hệ thống

Luận án về ngôn ngữ đánh giá trong sách giáo khoa tiếng Anh THCS dưới góc độ ngữ pháp chức năng hệ thống. Phân tích chi tiết, hữu ích cho giáo viên, sinh viên.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2023

183
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Luận Án Đánh Giá Ngôn Ngữ trong SGK THCS 55 Ký Tự

Nghiên cứu ngôn ngữ đã có sự chuyển đổi lớn, tập trung vào việc sử dụng ngôn ngữ trong thực tế thay vì chỉ nghiên cứu hệ thống ngôn ngữ thuần túy. Ngữ pháp chức năng hệ thống (SFG) là một hướng nghiên cứu mới, đầy triển vọng, gắn ngôn ngữ với chức năng và đời sống thực tế. Luận án này tập trung vào ngôn ngữ đánh giá – ngôn ngữ thể hiện tình cảm, thái độ – trong sách giáo khoa (SGK) Tiếng Anh THCS. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ đánh giá trong văn học, báo chí, nhưng việc áp dụng vào dạy ngoại ngữ, đặc biệt là SGK Tiếng Anh THCS, còn hạn chế. Nghiên cứu này nhằm lấp đầy khoảng trống này, phân tích ngôn ngữ đánh giá trong SGK Tiếng Anh THCS dưới góc độ SFG. Nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào việc phân tích đặc điểm ngôn ngữ đánh giá nói chung và phân tích đặc điểm ngôn ngữ đánh giá trong SGK cấp THCS nói riêng.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Ngôn Ngữ Đánh Giá trong Giáo Dục

Năng lực sử dụng ngôn ngữ là yếu tố quan trọng để phát triển các năng lực khác. Ngôn ngữ đánh giá có vai trò then chốt trong việc hình thành thái độ, quan điểm và giá trị của học sinh. Phân tích ngôn ngữ đánh giá trong SGK giúp đánh giá mức độ phù hợp và hiệu quả của tài liệu học tập đối với sự phát triển toàn diện của học sinh. Nghiên cứu lý thuyết ngôn ngữ đánh giá đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà ngôn ngữ học ứng dụng của Việt Nam, tuy nhiên, vấn đề áp dụng ngôn ngữ đánh giá vào lĩnh vực dạy ngoại ngữ nói chung và dạy tiếng Anh nói riêng hầu như rất ít được bàn đến ở Việt Nam.

1.2. Thiếu Hụt Nghiên Cứu Về Ngôn Ngữ SGK Tiếng Anh tại Việt Nam

Mặc dù một số quốc gia tiên tiến đã có nghiên cứu về ngôn ngữ SGK, nhưng ở Việt Nam, vẫn chưa có nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ SGK Tiếng Anh THCS từ góc độ khoa học ngôn ngữ. Luận án này hướng đến việc cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngôn ngữ đánh giá trong SGK Tiếng Anh THCS, góp phần cải thiện chất lượng biên soạn và sử dụng SGK.

II. Vấn Đề Đánh Giá Sách Giáo Khoa Tiếng Anh THCS 58 Ký Tự

Việc đánh giá SGK Tiếng Anh THCS là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng giáo dục. SGK cần phù hợp với trình độ, tâm lý lứa tuổi và mục tiêu giáo dục. Luận án tập trung vào đánh giá ngôn ngữ đánh giá trong SGK, một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thái độ, nhận thức của học sinh. Tính phù hợp của sách giáo khoa là yếu tố then chốt. Các bài đọc trong SGK Tiếng Anh là một phong cách chức năng có những yếu tố phù hợp với hướng nghiên cứu của phân tích đặc điểm ngôn ngữ đánh giá. Với những lý do được trình bày ở trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu cho luận án của mình là: “Ngôn ngữ đánh giá trong sách giáo khoa Tiếng Anh cấp trung học cơ sở tại Việt Nam dưới góc độ ngữ pháp chức năng hệ thống”.

2.1. Khó khăn trong Đánh Giá Ngôn Ngữ Đánh Giá Khách Quan

Đánh giá ngôn ngữ đánh giá đòi hỏi phương pháp luận chặt chẽ, khách quan để tránh chủ quan, cảm tính. Cần có khung lý thuyết rõ ràng và tiêu chí cụ thể để đánh giá tính phù hợp, hiệu quả của ngôn ngữ đánh giá trong SGK. Đề tài Ngôn ngữ đánh giá trong trong sách giáo khoa Tiếng Anh cấp trung học cơ sở tại Việt Nam dưới góc độ ngữ pháp chức năng hệ thống nhằm làm sáng tỏ ngôn ngữ đánh giá trong sách giáo khoa (SGK) Tiếng Anh từ quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday, về lý thuyết đánh giá của Martin.

2.2. Yêu Cầu về Tính Sư Phạm và Tính Chính Xác của Ngôn Ngữ

Ngôn ngữ trong sách giáo khoa không chỉ cần chính xác về ngữ pháp, từ vựng mà còn phải có tính sư phạm, dễ hiểu, hấp dẫn đối với học sinh. Đánh giá tính chính xác của ngôn ngữđánh giá tính sư phạm của sách giáo khoa là hai yếu tố quan trọng trong quá trình đánh giá SGK. Ngoài ra, những nghiên cứu của luận án sẽ góp phần vào việc phân tích đặc điểm ngôn ngữ đánh giá nói chung và phân tích đặc điểm ngôn ngữ đánh giá trong SGK cấp THCS nói riêng.

III. Phương Pháp Phân Tích Ngữ Pháp Chức Năng SFG 53 Ký Tự

Luận án sử dụng Ngữ pháp chức năng hệ thống (SFG) làm khung lý thuyết chính để phân tích ngôn ngữ đánh giá. SFG xem ngôn ngữ là một hệ thống các lựa chọn tạo nghĩa, phản ánh kinh nghiệm và quan hệ giữa con người. Nghiên cứu sẽ khảo sát, phân tích ngữ liệu một cách hệ thống trên các phương diện Thái độ và Thang độ của Bộ công cụ đánh giá. Từ khung lý thuyết áp dụng và những vấn đề lý luận đã được xác định, luận án tiến hành khảo sát, phân tích ngữ liệu một cách có hệ thống trên các phương diện Thái độ và Thang độ của Bộ công cụ đánh giá.

3.1. Áp Dụng Lý Thuyết Đánh Giá Của Martin vào Phân Tích

Luận án dựa trên lý thuyết đánh giá của Martin để phân loại và phân tích ngôn ngữ đánh giá theo các bình diện Thái độ (Tác động, Phán xét hành vi, Đánh giá sự vật hiện tượng) và Thang độ (Lực, Tiêu điểm). Điều này giúp xác định rõ các yếu tố ngôn ngữ đánh giá được sử dụng trong SGK. Các câu hỏi nghiên cứu như sau: (1) Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thái độ” trong SGK Tiếng Anh được hiện thực hoá bằng hệ thống từ vựng – ngữ pháp nào? (2) Ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thang độ” trong SGK Tiếng Anh được hiện thực hoá bằng hệ thống từ vựng – ngữ pháp nào? (3) Ngôn ngữ đánh giá được sử dụng trong SGK Tiếng Anh thuộc các thể loại khác nhau có những tương đồng và dị biệt nào?

3.2. Sử Dụng Phương Pháp Phân Tích Diễn Ngôn và Văn Bản

Phương pháp phân tích diễn ngôn và văn bản được sử dụng để xác định bối cảnh, chủ đề, nội dung văn bản, từ đó phân tích ngữ nghĩa, ngữ dụng của các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa thái độ và thang độ. Ngoài ra, chúng tôi cũng phân tích sâu hơn về cấu trúc thể loại và đặc điểm ngôn ngữ đánh giá của một số thể loại trong ngữ liệu nghiên cứu dựa trên lý thuyết khung đánh giá và lý thuyết thể loại theo trường phái Sydney.

IV. Phân Tích Thái Độ trong SGK Tiếng Anh THCS 54 Ký Tự

Luận án tập trung phân tích ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thái độ” trong SGK Tiếng Anh THCS. “Thái độ” được hiện thực hóa thông qua các nguồn lực ngôn ngữ như Tác động, Phán xét hành vi và Đánh giá sự vật hiện tượng. Luận án sẽ thống kê, miêu tả và phân tích các đặc điểm ngôn ngữ đánh giá này, tìm hiểu cách chúng được sử dụng để truyền tải thông điệp và tác động đến học sinh. Cụ thể: - Thái độ (Attitude): được hiện thực hoá trên ba bình diện Tác động, Phán xét hành vi và Đánh giá sự vật hiện tượng thể hiên thông qua các nguồn lực ngôn ngữ. Thang độ (Graduation): được hiện thực hoá trên ba bình diện Lực và Tiêu điểm thể hiên thông qua các nguồn lực ngôn ngữ.

4.1. Phân Loại Các Nguồn Lực Ngôn Ngữ Thể Hiện Thái Độ

Nghiên cứu sẽ phân loại các nguồn lực ngôn ngữ như từ ngữ, cấu trúc câu, biện pháp tu từ được sử dụng để thể hiện “Thái độ” trong SGK. Mỗi loại nguồn lực sẽ được phân tích chi tiết về chức năng, ý nghĩa và tác động của chúng. Cụ thể, luận án không nghiên cứu bình diện Tham gia (Engagement) vì đảm bảo số trang quy định của Luận án. Hơn nữa, phân tích bình diện Thái độ và Thang độ sẽ gần gũi, phù hợp hơn với lứa tuổi, tâm lý và trình độ của học sinh cấp THCS.

4.2. Thống Kê và Phân Tích Tần Suất Xuất Hiện Của Các Thái Độ

Luận án sẽ thống kê tần suất xuất hiện của các loại “Thái độ” (Tác động, Phán xét hành vi, Đánh giá sự vật hiện tượng) trong SGK. Điều này giúp xác định những loại “Thái độ” nào được nhấn mạnh và cách chúng được sử dụng để định hình quan điểm của học sinh. Nguồn ngữ liệu đánh giá ngôn ngữ hiện thực hóa Thái độ và Thang độ được thu thập từ 90 bài đọc hiểu trong SGK tiếng Anh cấp THCS, dựa trên sự hiện thực 3 hóa các bình diện ngữ nghĩa đánh giá theo phương thức hiển ngôn hoặc hàm ngôn, tích cực (+) hay tiêu cực (-) về ngữ nghĩa, bằng các phương tiện TV– NP như từ, ngữ, câu, lớp từ vựng xuất hiện trong văn bản.

V. Nghiên Cứu Thang Độ Ngôn Ngữ trong Sách Giáo Khoa 55 Ký Tự

Ngoài “Thái độ”, luận án cũng nghiên cứu ngôn ngữ đánh giá thể hiện “Thang độ” trong SGK Tiếng Anh THCS. “Thang độ” được hiện thực hóa thông qua Lực và Tiêu điểm. Luận án sẽ phân tích cách “Thang độ” được sử dụng để tăng cường hoặc giảm nhẹ mức độ biểu cảm của ngôn ngữ, ảnh hưởng đến cách học sinh tiếp nhận thông tin. Phương pháp miêu tả và phân tích ngữ liệu là phương pháp nghiên cứu chính của luận án. Chúng tôi sử dụng phương pháp này để miêu tả đặc điểm ngôn ngữ đánh giá qua nguồn lực ngôn ngữ (từ, ngữ, lớp từ vựng, từ chức năng) xuất hiện trong các bài đọc hiểu trong SGK Tiếng Anh cấp THCS.

5.1. Xác Định Cách Thể Hiện Lực và Tiêu Điểm trong SGK

Luận án sẽ xác định các phương tiện ngôn ngữ được sử dụng để thể hiện “Lực” (cường độ) và “Tiêu điểm” (mức độ chính xác) trong SGK. Ví dụ, các từ ngữ như “rất”, “hoàn toàn”, “gần như” có vai trò tăng cường hoặc giảm nhẹ mức độ biểu cảm của ngôn ngữ. Phương pháp phân tích văn bản được vận dụng để xác lập miêu tả bối cảnh, ngữ cảnh, chủ đề, nội dung văn bản để phân tích ngữ nghĩa, ngữ dụng về ý nghĩa của các phương tiện ngôn ngữ hiện thực hóa thái độ và thang độ.

5.2. Phân Tích Tác Động Của Thang Độ Đến Nhận Thức Của Học Sinh

Nghiên cứu sẽ phân tích cách “Thang độ” ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ và cảm xúc của học sinh. “Thang độ” có thể được sử dụng để thuyết phục, gây ấn tượng hoặc giảm nhẹ thông tin, tùy thuộc vào mục đích của người viết. Dựa vào những miêu tả và phân tích đặc điểm ngôn ngữ ở nhiều góc độ khác nhau, chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét, trao đổi, kiến nghị bước đầu về việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ trong việc biên soạn SGK Tiếng Anh mới.

VI. Kết Luận Ý Nghĩa Luận Án và Hướng Nghiên Cứu 50 Ký Tự

Luận án này góp phần làm sáng tỏ lý thuyết NPCNHT, lý thuyết đánh giá và lý thuyết về thể loại. Về mặt thực tiễn, các kết quả luận án có thể ứng dụng việc nghiên cứu, giảng dạy ngôn ngữ học ứng dụng, nâng cao chất lượng giảng dạy Tiếng Anh trong trường phổ thông và trong dịch thuật. Về mặt lý luận, những kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng rõ một số vấn đề về lý thuyết NPCNHT, lý thuyết đánh giá và lý thuyết về thể loại. Luận án góp phần hình thành một phương pháp phân tích có hệ thống và có hiệu quả về ngôn ngữ đánh giá trong SGK Tiếng Anh cụ thể, có thể áp dụng cho các nghiên cứu NNĐG trong các lĩnh vực khác.

6.1. Đề Xuất Các Giải Pháp Cải Thiện Sách Giáo Khoa Tiếng Anh

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất các giải pháp cải thiện ngôn ngữ đánh giá trong SGK Tiếng Anh, giúp SGK trở nên phù hợp hơn với mục tiêu giáo dục và nhu cầu của học sinh. Luận án của chúng tôi sẽ sử dụng những nguồn ngữ liệu là Bộ sách giáo khoa Tiếng Anh của Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam do tác giả Hoàng Văn Vân làm Tổng chủ biên. Hiện nay, bộ sách này đang được triển khai dạy học cho học sinh trên các tỉnh thành ở Việt Nam.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Ngôn Ngữ Học Ứng Dụng

Luận án mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về ngôn ngữ học ứng dụng, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục và biên soạn tài liệu học tập. Cần có thêm nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ đánh giá trong các loại hình văn bản khác nhau để hiểu rõ hơn về cách ngôn ngữ ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của con người. Luận án còn sử dụng các thủ pháp nghiên cứu như sau: – Thủ pháp miêu tả định lượng: Chúng tôi sử dụng thủ pháp thống kê để xác định số lượng và tần số xuất hiện, tính tỉ lệ theo tần số xuất hiện của các đối tượng nghiên cứu đã được xác định như các lớp từ, ngữ, câu và các bình diện đánh giá ngôn ngữ trong các bài đọc hiểu trong 08 cuốn SGK Tiếng Anh từ lớp 6 đến lớp 9.

16/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ứng dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống, lý thuyết ngôn ngữ đánh giá và lý thuyết thể loại 1. Về lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống, lý thuyết ngôn ngữ đánh giá và lý thuyết thể loại a.

Những nghiên cứu ở nước ngoài Lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống (NPCNHT) có tiền đề lý thuyết từ quan điểm hệ thống của Ferdinand de Saussure. Những tư tưởng của ông đã đặt nền móng cho những thành tựu phát triển rực rỡ của ngôn ngữ học cũng như ký hiệu học thế kỷ 20. Ferdinand de Saussure mô tả cấu trúc hệ thống của ngôn ngữ. Ông đã phát hiện bản chất hệ thống của ngôn ngữ và sự quy định lẫn nhau của ngôn ngữ trong một hệ thống.

Tác phẩm vĩ đại của Ferdinand de Saussure là Cours de linguistique génerale (Giáo trình Ngôn ngữ học Đại cương, 1973). Ông đã đưa ra một số các cặp lưỡng phân để làm ranh giới phân định việc nghiên cứu ngôn ngữ. Trong các cặp đó có các cặp như: ngôn ngữ và lời nói; nội tại và ngoại vi. Sau đó ông đi đến giới hạn việc nghiên cứu, không quan tâm tới những vấn đề thuộc lời nói và các mặt ngoại vi của ngôn ngữ [36].

Một trong những nhà ngôn ngữ học có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ là M. Halliday với lý thuyết chức năng hệ thống. Lý thuyết này có nguồn gốc trực tiếp từ các các công trình của J. Lý thuyết chức năng hệ thống (CNHT) của M.

Halliday có thể xem là cách tiếp cận tín hiệu học hệ thống về ngôn ngữ. Các công trình của ông có ảnh hưởng sâu rộng đến giáo dục ngôn ngữ và góp phần thay đổi tích cực trong việc dạy và học ngôn ngữ. Ông đã điều chỉnh lại khái niệm hệ thống (system), tạo ra một hệ thống phạm trù hoàn chỉnh (thông qua sự đối lập căn bản 8 giữa các phạm trù lý thuyết (theoretical categories) và các phạm trù miêu tả (descriptive categories) trong ấn phẩm Hệ thống và chức năng trong ngôn ngữ (System and function in language, 1976) [74]. Ông cũng điều chỉnh lại lý thuyết Ngữ cảnh tình huống (Context of culture and of situation) [83] và đưa ra lý thuyết Tín hiệu học xã hội (Socio-semiotics) [78] trong ngôn ngữ học, để có thể xây dựng một mô hình lý luận ngôn ngữ học hoàn chỉnh, rõ ràng, có tính ứng dụng cao, dễ mở rộng và phát triển.

Một số sách và tài liệu phải được kể đến là: Giải thích ngôn ngữ và ý nghĩa (The interpretation of language and meaning, 1978) [76]; Khẩu ngữ và bút ngữ (Spoken and writen language, 1985) [77]; Viết khoa học (Writing science, 1993) [80]. Trong những công trình nghiên cứu của ông, nổi tiếng và phổ biến nhất có lẽ là cuốn Dẫn luận ngữ pháp chức năng (An introduction to functional grammar, 1994) [79]. Ngoài ra, những ấn phẩm khác của ông đã mở đường cho những thay đổi trong việc dạy và học ngôn ngữ, cụ thể là sử dụng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ hay tiếng thứ hai (ESL). Halliday đã từng sống ở Trung Quốc và rất thạo tiếng Trung Quốc.

Năm 2006, một cuốn sách dày 396 trang của ông dành riêng về tiếng Trung với tựa đề Studies in Chinese Language [82] được xuất bản. Cuốn sách này bao quát cả những vấn đề lịch đại (Phần 1), Ngữ pháp (Phần 2), Âm vị học (Phần 3) và Ngữ pháp và Diễn ngôn (Phần 4). Tiếp theo phải kể đến công trình của Eggins Suzanne – một nhà khoa học người Úc với ấn phẩm Dẫn nhập ngôn ngữ học chức năng hệ thống (An introduction to systemic functional linguistics) [67] được xuất bản năm 1994 và được tái bản năm 2002. Công trình này là một tổng quan về lý thuyết hệ thống và một số dẫn chứng về các kĩ thuật hệ thống có thể được áp dụng trong việc phân tích các văn bản bao gồm hầu hết các khái niệm chính trong ngôn ngữ học hệ thống (hệ thống tín hiệu học, thể loại, ngữ vực, văn bản, ẩn dụ ngữ pháp).

Những thành tựu trong nghiên cứu thể loại đã được thấy trong nhiều sách hướng dẫn dành cho giáo viên và sách giáo khoa dành cho học sinh. Một số ấn phẩm quan trọng như cuốn sách của Bhatia, V. Trong thế kỷ 21, nhiều cuốn sách về thể loại viết trong các trường học đã được xuất bản. Một số tác giả tiêu biểu như Martin và David Rose (2003) với cuốn Nghiên cứu diễn ngôn (Working with discourse) [105]; Callaghan, M., và cộng sự (1988) về cách dạy viết thể loại tường thuật trong sách giáo khoa [105].

Từ khung lý thuyết NPCNHT của M. Halliday, lý thuyết ngôn ngữ đánh giá là một lý thuyết do James Martin và Peter White phát triển gần đây dựa trên mô hình lý luận của ngôn ngữ chức năng hệ thống với công trình nghiên cứu The Language of Evaluation (2005). Martin và Rose (2003), Martin và White (2005) và các nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống khác đã phát triển bộ công cụ đánh giá (Appraisal framework) để tìm hiểu ngôn ngữ đánh giá (NNĐG) trong diễn ngôn ở nhiều lĩnh vực khác nhau [79]. Bộ công cụ đánh giá đã được áp dụng rộng rãi để nghiên cứu NNĐG trong các diễn ngôn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.

Chẳng hạn như: trong lĩnh vực giáo dục (Macken-Horarik, 2003; S. Hood, 2010), trong lĩnh vực khoa học (Veel, 1998), trong lĩnh vực chính trị (Miller, 2007), trong lĩnh vực truyền thông (White, 1998; E. Thompson & White, 2008; Xinghua & Thompson, 2009); và trong lĩnh vực nghề nghiệp (Lipovsky, 2013). Ngoài ra, bộ công cụ đánh giá còn được áp dụng rộng rãi trong việc phân tích NNĐG bằng tiếng Anh của những người nói ngôn ngữ khác (Adendorff & de Klerk, 2005; Xinghua & Thompson, 2009; Lee, 2006), tiếng Nhật (Thomson, 2008), tiếng Trung Quốc (Wang, D & An, X, 2013) và tiếng Việt (Tran, V.

Về phân tích thể loại (genres), có thể thể loại văn bản học thuật (S. Hood, 2004, 2006, 2010; Derewianka, 2011; Hao, J., & Humphrey, 2012); thể loại sách giáo khoa lịch sử (Coffin, 2009); thể loại tự sự (Macken-Horarik, 2003; Painter, 2003); trong việc phân tích các văn bản nói (S. Hood & Forey, 2008; Becker, 2009). Những nghiên cứu ở Việt Nam Nghiên cứu ngữ pháp chức năng hệ thống và ngôn ngữ đánh giá là hướng tiếp cận mới của Việt Nam trong những năm gần đây.

10 Đỉnh cao mối quan tâm đến việc nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ ngữ pháp chức năng là công trình Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng của Cao Xuân Hạo được xuất bản vào năm 1991. Tập sách này trình bày kết quả của một quá trình nghiên cứu tiếng Việt trên quan điểm ngữ pháp chức năng. Trong tập sách này, tác giả nhận thấy quan điểm này có thể soi sáng những vấn đề mấu chốt của ngành Việt ngữ học; nó cho phép nhận rõ những đặc trưng loại hình học của tiếng Việt, trình bày hệ thống ngữ pháp của nó một cách chân xác và giản dị hơn, lý giải được nhiều sự kiện hơn so với những quan điểm đã vận dụng trước đây. Cuốn sách gồm có 2 phần: Phần thứ nhất "Dẫn luận", chủ yếu là nhằm cung cấp những tư liệu về tình chung của các trào lưu ngữ pháp chức năng hiện nay; Phần thứ hai "Câu trong tiếng Việt", nói về cấu trúc và nghĩa của câu trong tiếng Việt [16].

Năm 2002, cuốn sách Ngữ pháp kinh nghiệm của cú tiếng Việt mô tả theo quan điểm chức năng hệ thống của Hoàng Văn Vân đã được xuất bản [45]. Cuốn sách này miêu tả theo quan điểm chức năng hệ thống, chủ yếu dựa vào luận án Tiến sĩ được các tác giả tiến hành nghiên cứu tại Khoa Ngôn ngữ học, Đại học Macquarie, Australia từ năm 1994 đến năm 1997 dưới nhan đề bằng tiếng Anh An Experiential Grammar Of The Vietnamese Clause: A Functional Description. Năm 2002, chuyên khảo được in chính thức lần thứ nhất tại Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. Đây là công trình đầu tiên ứng dụng lý thuyết NPCNHT vào nghiên cứu tiếng Việt và là tài liệu cần thiết phục vụ cho cán bộ giảng dạy sau đại học, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngôn ngữ học, ngôn ngữ học ứng dụng và ngoại ngữ.

Năm 2008, công trình Hợp phần nghĩa liên nhân của câu trong ngữ pháp chức năng hệ thống, Ngô Đình Phương đã nghiên cứu sâu hợp phần nghĩa liên nhân trong tổ chức của câu. Tác giả đã tập trung xem xét về các giá trị mà các yếu tố tình thái mang lại cho câu có sự phân biệt các khu vực ý nghĩa cụ thể khác nhau; phân tích các kiểu cấu trúc chứa đựng các yếu tố tình thái, trong đó có cấu trúc thức gồm yếu tố mang giá trị liên nhân xét trong quan hệ với các yếu tố còn lại trong cấu trúc trúc ngữ pháp của câu; sự tương đồng và dị biệt trong việc cấu tạo thức giữa tiếng Anh và tiếng Việt [34]. Ấn bản Dẫn luận ngữ pháp chức năng (2011) [46] được Hoàng Văn Vân dich 11 từ nguyên bản tiếng Anh An introduction to functional grammar của M. Halliday là một tài liệu hữu ích để giúp cho giáo viên dạy ngoại ngữ nói chung và giáo viên dạy tiếng Anh nói riêng cũng như các nhà nghiên cứu ngôn ngữ tham khảo về lý thuyết ngữ pháp chức năng, khám phá bản chất của ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngôn bản.

Về thực tiễn ứng dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống, lý thuyết đánh giá và lý thuyết thể loại vào nghiên cứu giáo dục ngôn ngữ a. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trong số các công trình nghiên cứu ứng dụng lý thuyết NPCNHT, NNĐG, thể loại, theo hiểu biết của chúng tôi, có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý sau đây, đặc biệt là ở lĩnh vực giáo dục ngôn ngữ và đã sử dụng những công trình đó để làm tài liệu tham khảo phục vụ cho đề tài của mình. Trước hết, bài báo The nature of “Reporter Voice” in a Vietnamese hard news story của Tran, V. Ứng dụng lý thuyết về thể loại, luận văn thạc sĩ Understanding school genres using systemic functional linguistics: A study of science and narrative texts của Canfield (2013) nghiên cứu theo hướng tìm ra sự dị biệt về đặc điểm từ vựng ngữ pháp trong hai thể loại văn bản có mục đích xã hội khác nhau rất rõ nét, đó là thể loại “kể chuyện” và “thông tin”.

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là sách Reading/Language Arts từ lớp 2 đến lớp 4 của nhà xuất bản Houghton Mifflin Harcourt publishing. Nghiên cứu này đi sâu về các giá trị mở rộng của bộ công cụ đánh giá. Tuy nhiên, luận văn này chưa hệ thống hóa được các biện pháp hiện thực hóa “thái độ” hiển ngôn và “thang độ” [59] .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Đánh giá trong Sách Giáo Khoa Tiếng Anh THCS: Phân tích Ngữ pháp Chức năng Hệ thống" tập trung nghiên cứu cách thức đánh giá (evaluation) được thể hiện thông qua ngôn ngữ trong sách giáo khoa tiếng Anh cấp THCS. Luận án sử dụng Ngữ pháp Chức năng Hệ thống (Systemic Functional Grammar - SFG) để phân tích, làm sáng tỏ các loại đánh giá được sử dụng (attitude, judgement, appreciation) và cách chúng được thể hiện thông qua các cấu trúc ngữ pháp khác nhau. Việc phân tích này giúp hiểu rõ hơn về tư tưởng và giá trị mà sách giáo khoa truyền tải, cũng như cách chúng tác động đến nhận thức của học sinh. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng đối với việc biên soạn sách giáo khoa, giúp các nhà biên soạn tạo ra tài liệu giảng dạy khách quan, đa chiều và phù hợp với mục tiêu giáo dục.

Nếu bạn quan tâm đến việc phân tích ngôn ngữ và cách nó được sử dụng để xây dựng lập luận, bạn có thể tham khảo thêm luận văn thạc sĩ: Luận văn thạc sĩ language of arguments used in the sample speaking performance of toeflibt. Đây là một tài liệu hữu ích để khám phá sâu hơn về cách ngôn ngữ được sử dụng để thuyết phục và biện luận trong một bối cảnh cụ thể.