Luận văn thạc sĩ đặc điểm ngữ nghĩa của những từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin của người việt so sánh với người anh

Luận văn thạc sĩ phân tích ngữ nghĩa từ ngữ phong tục cưới xin của người Việt và so sánh với người Anh, khám phá sự khác biệt văn hóa.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2010

101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Phong Tục Cưới Xin Việt Anh Đặc Điểm

Bài viết này khám phá đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin của người Việt và người Anh. Mục tiêu là làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt, qua đó hiểu sâu hơn về văn hóa cưới hỏi của hai dân tộc. Việc so sánh giúp nhận diện những yếu tố văn hóa đặc trưng được thể hiện qua ngôn ngữ. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích thành tố nghĩa, thống kê, và đối chiếu để làm sáng tỏ vấn đề. Bài viết hy vọng đóng góp vào lĩnh vực tâm lý ngôn ngữ học tộc người và giảng dạy ngoại ngữ.

1.1. Khái niệm về văn hóa và phong tục cưới xin Việt Nam

Phong tục cưới xin Việt Nam là một phần quan trọng của văn hóa, phản ánh quan niệm về hôn nhân và gia đình. Nó bao gồm nhiều nghi lễ và truyền thống khác nhau, thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo. Giáo sư Trần Quốc Vượng cho rằng văn hóa là sự thích nghi và biến đổi thiên nhiên, còn giáo sư Phan Ngọc thì coi văn hóa là dấu ấn của một tập thể cộng đồng lên mọi hiện tượng tinh thần, vật chất. Văn hóa cưới hỏi là một trong những dấu ấn đó.

1.2. Giới thiệu sơ lược về phong tục cưới xin của người Anh

Phong tục cưới xin Anh cũng đa dạng và chịu ảnh hưởng của lịch sử, tôn giáo và các giá trị xã hội. Các nghi lễ như lễ đính hôn, tiệc độc thân, lễ cưới tại nhà thờ và tiệc cưới đều mang ý nghĩa riêng. Trang phục cưới truyền thống, hoa cưới và các biểu tượng may mắn cũng đóng vai trò quan trọng. Cần so sánh để thấy văn hóa cưới hỏi Anh có nét riêng so với Việt Nam.

1.3. Tại sao cần so sánh ngữ nghĩa trong phong tục cưới xin

Việc so sánh ngữ nghĩa từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin giúp chúng ta hiểu sâu hơn về cách hai nền văn hóa nhận thức và diễn giải các khái niệm liên quan đến hôn nhân và gia đình. Những khác biệt trong ý nghĩa nghi lễ cướitừ vựng cưới hỏi có thể tiết lộ những giá trị và quan niệm khác nhau về vai trò của nam và nữ, sự gắn kết gia đình và cộng đồng. Sự so sánh này giúp tránh hiểu lầm và tăng cường giao tiếp hiệu quả giữa các nền văn hóa.

II. Thách Thức Định Danh Phong Tục Cưới Xin Việt Anh

Một thách thức lớn trong nghiên cứu này là sự khác biệt trong việc định danh các hiện tượng thuộc phong tục cưới xin. Nhiều hành vi và nghi lễ truyền thống của người Việt chưa được định danh rõ ràng, hoặc được diễn đạt bằng các cụm từ phức tạp. So sánh với người Anh, một số nghi lễ tương tự có thể có tên gọi ngắn gọn và dễ hiểu hơn. Sự khác biệt này gây khó khăn cho việc đối chiếu và phân tích ngữ nghĩa. Thêm vào đó, ý nghĩa biểu tượng của các lễ vật cưới hỏi Việt Nam có thể không có tương đương trực tiếp trong văn hóa cưới hỏi Anh.

2.1. Vấn đề thiếu hụt từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin cụ thể

Trong văn hóa cưới xin Việt Nam, có những phong tục phức tạp, chưa có từ ngữ đơn lẻ để mô tả. Ví dụ, tục giã cối đón dâu. Hành động này chưa được định danh cụ thể bằng một từ duy nhất, gây khó khăn cho việc nghiên cứu và so sánh với các nền văn hóa khác. Điều này cho thấy sự đa dạng và phức tạp của truyền thống cưới xin Việt Nam.

2.2. Sự khác biệt văn hóa ảnh hưởng đến định danh từ ngữ

Sự khác biệt về văn hóa và quan niệm giữa người Việt và người Anh dẫn đến sự khác biệt trong cách đặt tên cho các nghi lễ và hành vi liên quan đến lễ cưới. Những biểu tượng trong đám cưới Việt Nam, như trầu cau hoặc mâm ngũ quả, không có tương đương trực tiếp trong đám cưới Anh. Do đó, việc tìm kiếm các từ ngữ tương ứng để so sánh trở nên khó khăn.

2.3. Ảnh hưởng của lịch sử và ngôn ngữ đến từ ngữ cưới xin

Lịch sử và ngôn ngữ của mỗi quốc gia ảnh hưởng đến từ ngữ sử dụng trong đám cưới. Tiếng Việt chịu ảnh hưởng của Hán Việt, trong khi tiếng Anh chịu ảnh hưởng của Latinh và các ngôn ngữ German. Điều này tạo ra sự khác biệt về nguồn gốc và cấu trúc của các từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin.

III. Cách Phân Tích Ngữ Nghĩa Từ Ngữ Cưới Xin Việt Anh

Phương pháp phân tích thành tố nghĩa được sử dụng để làm rõ cấu trúc ngữ nghĩa của các từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin. Phương pháp này phân giải ý nghĩa của từ thành các nghĩa vị, hay nét nghĩa, giúp xác định những điểm tương đồng và khác biệt giữa các từ ngữ tương ứng trong tiếng Việt và tiếng Anh. Bên cạnh đó, phương pháp thống kê được sử dụng để đánh giá tần suất sử dụng của các từ ngữ, và phương pháp đối chiếu được sử dụng để so sánh các hiện tượng ngôn ngữ giữa hai ngôn ngữ. Ngôn ngữ sử dụng trong đám cưới Việt Nam thường mang tính trang trọng và truyền thống, khác với ngôn ngữ trong đám cưới Anh có thể mang tính hiện đại và cá nhân hóa.

3.1. Phân tích thành tố nghĩa Ưu điểm và hạn chế

Phương pháp phân tích thành tố nghĩa giúp phát hiện những mặt căn bản của ý nghĩa từ ngữ và nghiên cứu hệ thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ. Tuy nhiên, phương pháp này có thể gặp khó khăn khi phân tích những từ ngữ có ý nghĩa trừu tượng hoặc mang tính biểu tượng cao, đặc biệt là trong lĩnh vực phong tục cưới xin.

3.2. Phương pháp thống kê Đánh giá mức độ phổ biến của từ ngữ

Phương pháp thống kê giúp đánh giá mức độ phổ biến của các từ ngữ liên quan đến phong tục cưới xin trong cả tiếng Việt và tiếng Anh. Điều này có thể cho thấy những khía cạnh nào của văn hóa cưới hỏi được nhấn mạnh hơn trong mỗi ngôn ngữ.

3.3. Phương pháp đối chiếu Tìm điểm tương đồng và khác biệt

Phương pháp đối chiếu nhằm làm sáng tỏ những nét tương đồng và khác biệt giữa các từ ngữ và khái niệm liên quan đến phong tục cưới xin của người Việt và người Anh. Điều này giúp hiểu rõ hơn về những giá trị và quan niệm khác nhau về hôn nhân và gia đình của hai dân tộc. Cần tìm hiểu rõ quan niệm hôn nhân của người Việt so với quan niệm hôn nhân của người Anh.

IV. Ứng Dụng So Sánh Cụ Thể Về Lễ Vật Cưới Xin Việt Anh

Nghiên cứu này tập trung vào so sánh cụ thể về lễ vật cưới hỏi Việt Nam và các yếu tố tương ứng trong đám cưới Anh. Ví dụ, trầu cau trong lễ ăn hỏi của người Việt có thể được so sánh với hoa cưới hoặc nhẫn cưới của người Anh, xét về ý nghĩa biểu tượng và vai trò trong nghi lễ. Sự khác biệt về trang phục cưới Việt Namtrang phục cưới Anh cũng là một khía cạnh quan trọng. Đồng thời, nghiên cứu xem xét ý nghĩa biểu trưng của các nghi lễ cưới Việt Namnghi lễ cưới Anh.

4.1. So sánh ý nghĩa biểu tượng của lễ vật cưới hỏi

Việc so sánh ý nghĩa biểu tượng của lễ vật cưới hỏi giúp hiểu rõ hơn về những giá trị và quan niệm văn hóa mà mỗi dân tộc muốn truyền tải thông qua hôn lễ. Trầu cau tượng trưng cho sự gắn kết và tình yêu bền chặt trong văn hóa Việt Nam, trong khi nhẫn cưới tượng trưng cho sự cam kết và vĩnh cửu trong văn hóa phương Tây.

4.2. Khám phá sự khác biệt trong trang phục cưới truyền thống

Sự khác biệt về trang phục cưới truyền thống của người Việt và người Anh phản ánh những quan niệm khác nhau về vẻ đẹp, sự trang trọng và vai trò của cô dâu và chú rể. Áo dài truyền thống của cô dâu Việt thể hiện sự duyên dáng và kín đáo, trong khi váy cưới trắng của cô dâu Anh thể hiện sự tinh khiết và hiện đại.

4.3. Phân tích ý nghĩa của các nghi lễ cưới quan trọng

Phân tích ý nghĩa của các nghi lễ cưới quan trọng như lễ rước dâu, lễ gia tiên và lễ cưới tại nhà thờ giúp hiểu rõ hơn về những giá trị và truyền thống mà mỗi dân tộc coi trọng trong hôn lễ. Lễ dạm ngõlễ ăn hỏi có ý nghĩa quan trọng trong truyền thống cưới xin Việt Nam, trong khi lễ trao nhẫn và lời thề nguyện là những nghi thức không thể thiếu trong đám cưới Anh.

V. Kết Luận Đặc Trưng Ngữ Nghĩa và Văn Hóa Cưới Xin

Nghiên cứu này đã làm rõ những đặc điểm ngữ nghĩa của từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin của người Việt và người Anh, đồng thời chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt về văn hóa. Kết quả cho thấy ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện lưu giữ và truyền tải những giá trị văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc. Việc hiểu rõ những đặc điểm văn hóa cưới xin này giúp tăng cường giao tiếp và hợp tác giữa các nền văn hóa.

5.1. Tóm tắt những phát hiện chính về sự khác biệt ngữ nghĩa

Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt đáng kể về ngữ nghĩa của từ ngữ biểu thị phong tục cưới xin giữa tiếng Việt và tiếng Anh. Những khác biệt này phản ánh những quan niệm và giá trị văn hóa khác nhau về hôn nhân và gia đình.

5.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa

Việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa là vô cùng quan trọng để hiểu rõ hơn về thế giới xung quanh và tăng cường giao tiếp giữa các nền văn hóa. Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện lưu giữ và truyền tải những giá trị văn hóa.

5.3. Hướng nghiên cứu tương lai về ngôn ngữ và phong tục

Hướng nghiên cứu tương lai có thể tập trung vào việc phân tích sâu hơn về ngôn ngữ sử dụng trong các bài hát, thơ ca và văn bản liên quan đến đám cưới. Nghiên cứu cũng có thể mở rộng phạm vi sang các nền văn hóa khác để có cái nhìn toàn diện hơn về sự đa dạng của phong tục cưới xin trên thế giới.

28/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẶC TRƯNG VĂN HOA - DÂN TỘC CỦA NGÔN NGỮ 1. Khái niệm văn hoá và ngôn ngữ Khi nghiên cứu về vấn đề đặc trưng văn hoá-dân tộc của tư duy và giao tiếp ngôn ngữ, câu hỏi đầu tiên được đặt ra cho các nhà nghiên cứu đó là: văn hoá là gì? nó có chức năng gì? Để trả lời cho câu hỏi này, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hiện tượng được gọi là văn hoá. Dưới đây là một vài định nghĩa mà được nhiều nhà nghiên cứu chấp thuận: Giáo sư Trần Quốc Vượng trong cuốn Cơ sở văn hoá Việt Nam đã khẳng định: “Văn hoá là sự thích nghi và biến đổi thiên nhiên. Thiên nhiên đặt ra trước con người những thử thách, những thách đố.

Văn hoá là sản phẩm của con người, là phản ứng, là sự trả lời của con người trước những thách đố của tự nhiên.Văn hoá, xét ở mỗi cá nhân, cũng như ở mỗi cộng đồng còn là do lịch sử hun đúc nên. Những số phận, vận mệnh lịch sử khác nhau tạo nên những văn hoá khác nhau”. Giáo sư Phan Ngọc cho rằng Văn hoá không phải là kỹ thuật, không phải là hoạt động tinh thần hay hoạt động chính trị xã hội, cũng không phải là phong tục tập quán, mà “văn hoá là dấu ấn của một tập thể cộng đồng lên mọi hiện tượng tinh thần, vật chất, mọi sản phẩm của tập thể cộng đồng này từ tín ngưỡng, phong tục cho đến cả sản phẩm công nghiệp bán ra thị trường.” [43, 21] Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam, Trần Ngọc Thêm đã phân biệt khái niệm và cấu trúc giữa văn hoá và văn minh. Theo ông, văn hoá chứa đựng cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần, mang tính dân tộc và có bề (LUAN.Anh) 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Anh) dày lịch sử.

Còn văn minh chỉ một trình độ thiên về giá trị vật chất và kĩ thuật, có tính quốc tế. Theo Hà Quang Năng, “văn hoá theo nghĩa rộng, là cái tự nhiên được con người biến đổi, để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một cách nhìn, một quan niệm về vũ trụ, về thế giới với một hệ thống những chuẩn mực, những giá trị, những cách nhận thức.Văn hoá bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và được tích luỹ qua nhiều thế hệ, mang tính lịch sử và tạo cho nó một bề dày, một chiều sâu. Được duy trì bằng cơ chế tích luỹ và truyền đạt kinh nghiệm trong cộng đồng qua không gian và thời gian nên văn hoá luôn tồn tại và phát triển”.[39, 66] “Văn hóa là một tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần được con người tạo ra và được phát triển theo lịch sử, khác với các đối tượng của tự nhiên”. (Từ điển bách khoa Xô Viết) (dẫn theo [59,16]) Qua một vài định nghĩa về văn hoá như đã nêu ở trên, có thể rút ra một nhận xét về văn hoá như sau: văn hoá với tư cách là một hiện tượng xã hội - bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần đã và đang được một cộng đồng người tích luỹ.

Văn hoá bao gồm những đặc trưng sau: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Trong đó tính lịch sử thể hiện truyền thống văn hoá là những giá trị tương đối ổn định (kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội, được tích luỹ và tái tạo trong cộng đồng người theo không gian và thời gian và được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ. Còn về khái niệm “ngôn ngữ” cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau. Nhưng quan niệm được nhiều nhà nghiên cứu đồng ý nhất là coi “ ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội ( không chỉ là một hiện tượng xã hội mà còn là hiện tượng xã hội đặc biệt) và ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp quan trọng nhất, là công cụ của tư duy”.

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hoá và tư duy (LUAN.Anh) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Anh) Giữa ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ chặt chẽ trong sự phát triển, tác động qua lại lẫn nhau. Ngôn ngữ vừa là một bộ phận của nền văn hoá dân tộc, vừa là thành tố cấu tạo nên văn hóa, đồng thời cũng là phương tiện lưu giữ giá trị văn hoá một cách bền chắc và khá đầy đủ. Mặc dù chúng ta không thể có được nội dung trọn vẹn của một nền văn hoá nhờ ngôn ngữ, vì không phải lúc nào ngôn ngữ cũng truyền tải một cách đầy đủ nền văn hoá mà nó đang hành chức nhưng ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ khăng khít, cùng hình thành từ hoạt động giao tiếp, gắn liền với hoạt động nhận thức của con người. Và nếu như ngôn ngữ là hình thức, là công cụ của hoạt động giao tiếp thì văn hoá chính là nội dung của nó.

Ngôn ngữ vừa là phương tiện trao đổi giữa các nền văn hoá, đồng thời là phương tiện liên hệ, kế thừa giữa các thế hệ trong sự phát triển tinh thần của cộng đồng sử dụng nó. Chính vì vậy “ ngôn ngữ là tấm gương thực sự của nền văn hoá dân tộc" - E.Veresaghin, hay nói như A.Agaép “chính ngôn ngữ được một dân tộc sáng tạo ra và của riêng dân tộc này đã thực hiện chức năng đặc trưng dân tộc”. Đồng thời, “chính sự đặc thù của văn hoá được biểu hiện trong ngôn ngữ đã quy định đặc trưng văn hoá dân tộc của hành vi nói năng ở những người thuộc cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ khác nhau”- Nguyễn Đức Tồn [59,23]. Chẳng hạn, nhìn vào tục ngữ, thành ngữ tiếng Việt, chúng ta nhận thấy một nền văn hoá dân tộc mang đậm màu sắc của những cư dân nông nghiệp như: chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm/ ráng đàng đông vừa trông vừa chạy, ráng đàng nam vừa làm vừa chơi/ đom đóm bay ra trồng cà trồng đỗ/ ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng/ con trâu là đầu cơ nghiệp/ đổ thóc giống ra mà ăn/ chiêm khê mùa thối/ cổ cày vai bừa/ đầu trâu mặt ngựa/ một nắng hai sương/ ăn củ ủ nhiều/ ôm rơm nặng bụng/ ra môn ra khoai/ kéo cày trả nợ/ con sâu làm rầu nồi canh/ mò cua bắt ốc/ rẻ như bèo/ đắt như tôm tươi.

Đó là những lát cắt cuộc sống của cư dân có nền văn hoá được xây dựng từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước.Anh) 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Anh) Khi nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, một vấn đề mà chúng ta không thể không nhắc tới đó là vấn đề tư duy của những người thuộc cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ đang được xem xét. Bởi vì “nói đến khái niệm văn hoá - dù hiểu rộng hay hiểu hẹp - trong định nghĩa của nó bao giờ cũng có chú trọng đến nét riêng biệt về mặt tinh thần, mặt tâm lí giữa các dân tộc; hay nói cho cụ thể hơn (như nhiều học giả quan niệm) đó là lối nghĩ riêng , cách tư duy riêng của dân tộc đó về các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, của tự nhiên, của xã hội và con người của đất nước đó, lãnh thổ đó” ”- Lý Toàn Thắng [53, 2]. Vậy những biểu hiện của lối nghĩ ấy, cách tư duy ấy có thể tìm thấy ở đâu? Có thể thấy rằng không tìm ở đâu dễ dàng, nhanh chóng và thực tế hơn là nghiên cứu và khảo sát ngôn ngữ của nền văn hoá đó. Vì ngôn ngữ là phương tiện phản ánh tư duy con người.

Chẳng hạn, khi so sánh đại từ nhân xưng giữa tiếng Anh và tiếng Việt, chúng ta thấy có sự khác biệt rất lớn. Ví dụ: Tiếng Việt Tiếng Anh Ngôi thứ nhất: + Tôi, tớ, tao, mình, người ta,. +I + Chúng / bọn tôi, chúng / bọn tớ, + We chúng / bọn tao,. Ngôi thứ hai: + Mày, ấy, cậu, bạn,.

+ You Chúng/bọn mày, bọn ấy, bọn cậu,. + You Ngôi thứ ba: + Nó, hắn, y, thị, anh ấy, cô ấy. + He, she + Chúng/bọn nó, họ, bọn họ,. + They Có thể thấy rằng để biểu thị ngôi thứ nhất, số ít, trong tiếng Anh chỉ sử dụng một đại từ hoàn toàn trung tính về sắc thái biểu cảm – “I”; nhưng trong (LUAN.Anh) 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Anh) tiếng Việt, ngoài yếu tố trung tính tương đương- “tôi”, người Việt còn sử dụng một loạt các yếu tố hàm chỉ thái độ, tình cảm tích cực- “tớ, mình” hay tiêu cực – “tao”.

Đối với các đại từ thuộc ngôi thứ nhất, số nhiều, ngôi thứ hai và ngôi thứ ba, trường hợp cũng tương tự. Điều này chứng tỏ người Anh thể hiện tính khách quan trong xưng hô còn người Việt biểu hiện tính chủ quan. Bênfu cạnh đó, người Việt thường dùng danh từ thân tộc để xưng hô như anh, chị, em, ông, bà, bác, chú, cô, dì, cháu,.Như vậy có thể nhận thấy từ xưng hô trong tiếng Việt rất phong phú. Qua cách xưng hô có thể nhận thấy tư duy của người Việt rất coi trọng tôn ti trật tự, có trên có dưới.

Trong khi đó người Anh lại coi trọng hơn về sự bình đẳng, dân chủ. Sự phản ánh đặc trưng văn hoá dân tộc trong ngôn ngữ Theo Nguyễn Đức Tồn, có thể nhận thấy đặc trưng văn hoá - dân tộc được thể hiện qua những bình diện sau đây: 1. Đặc trưng văn hoá - dân tộc trong ý nghĩa của từ Như trong phần 1.2 đã khẳng định: lối nghĩ, cách tư duy của một dân tộc có thể dễ dàng tìm thấy qua sự nghiên cứu và khảo sát nền văn hoá của chủ thể cộng đồng ngôn ngữ của nền văn hoá đó. Nhưng phải chăng tất cả các khía cạnh của ngôn ngữ đều thể hiện rõ bản sắc văn hoá của dân tộc.

“Hiện nay, dễ dàng chấp nhận hơn cả là nghiên cứu phương diện ngữ nghĩa để tìm hiểu bản sắc văn hoá của một ngôn ngữ” - Nguyễn Huy Cẩn [3,24]. Và đi sâu thêm nữa thì đó trước hết là ngữ nghĩa của các từ. Vì ý nghĩa của từ là một dạng tri thức về thế giới. Trong ý nghĩa của từ có lưu giữ lại sự hiểu biết của con người đã thu nhận, tích luỹ được trong quá trình nhận thức thế giới khách quan.

Các tri thức đó phản ánh trình độ hiểu biết mà ý thức xã hội đã đạt được ở giai đoạn hiện tại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ