mở đầu; Đoạn triển khai nội dung; Đoạn kết và cố gắng tìm ra các phương thức và chức năng của từng phần. Những năm gần đây nhiều công trình đã nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật theo các thể loại như thơ, truyện. Trong đó, một số công trình nghiên cứu đã xây dựng hệ thống lý thuyết về ngôn ngữ kể chuyện trong tác phẩm tự sự và sử dụng nó để phân tích, lí giải ngôn ngữ kể chuyện của một số tác giả hoặc giai đoạn văn học. Các công trình này nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện từ các phương diện: điểm nhìn, người kể chuyện, tính đối thoại, thời gian nghệ thuật.
Đó là một số luận án Tiến sĩ về ngôn ngữ kể chuyện/ngôn ngữ trần thuật đã được in thành sách như: - Điểm nhìn và ngôn ngữ trong truyện kể của Nguyễn Thị Thu Thủy, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2016. Trong cuốn sách này, tác giả đã thể hiện vốn kiến thức phong phú, sâu sắc về điểm nhìn nghệ thuật và ứng dụng nó vào việc nghiên cứu sự chi phối của điểm nhìn nghệ thuật tới lời kể của người kể chuyện, lời nhân vật trong các tác phẩm văn học Việt Nam sau 1975. - Sự vận động theo hướng Tiểu thuyết hóa trong ngôn ngữ truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu của Đỗ Thị Hiên, NXB Khoa học Xã hội, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tác giả cuốn sách đã tiếp thu quan niệm của Nguyễn Thị Thu Thủy về điểm nhìn nghệ thuật và nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu từ góc độ nhãn quan và tính đối thoại.
- Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (trên tư liệu truyện ngắn của ba nhà văn nữ) của Hoàng Dĩ Đình, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014. Điều đáng chú ý, Hoàng Dĩ Đình là người Trung Quốc và trong quá trình thực hiện luận án có áp dụng thành quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc như Đàm Quân Cường, Thân Đan. vào việc tìm hiểu truyện ngắn Việt Nam sau 1975. So với luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy và Đỗ Thị Hiên, tác giả Hoàng Dĩ Đình đã không sử dụng thuật ngữ ngôn ngữ kể chuyện mà sử dụng thuật ngữ ngôn ngữ trần thuật.
Chị không chỉ tìm hiểu ngôn ngữ trần thuật ở điểm nhìn trần thuật, người trần thuật mà còn mở rộng đến phương diện thời gian trần thuật. Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu sâu về ngôn ngữ nhân vật trong tác phẩm tự sự bao gồm ngôn ngữ đối thoại và độc thoại nội tâm; đi sâu nghiên cứu hành động ngôn ngữ, ngữ nghĩa cũng như vai trò của ngôn ngữ độc thoại nội tâm trong tác phẩm văn học. b) Về thi pháp học - Dẫn luận thi pháp học của Trần Đình Sử (1998): Trong cuốn giáo trình này Trần Đình Sử đã xem thể loại, cảm hứng, thời gian, không gian, điểm nhìn nghệ thuật, cấu trúc của văn bản nghệ thuật, phong cách nhà văn như là những yếu tố quan yếu của thi pháp học. Ông đã bàn về các yếu tố nghệ thuật này trong thi pháp truyện và tiểu thuyết.
- Những vấn đề thi pháp của truyện của Nguyễn Thái Hòa (2000) tìm hiểu thi pháp thể loại truyện từ góc nhìn ngôn ngữ học. Tác giả đã có sự phân biệt truyện với các loại văn bản khác. Ông xác định những yếu tố quan trọng trong nghệ thuật truyện là lời kể, lời thoại, không gian, thời gian và giọng kể. - Thi pháp hiện đại của Đỗ Đức Hiểu (2000) là cuốn sách lí luận và phê binh văn chương.
Trong đó tác giả đã khái quát một số vấn đề về thi pháp, thi pháp thể loại. Đặc biệt trong phần thi pháp truyện ông có bàn về tính đa âm, tính đối thoại, thời gian và không gian trong truyện. Ngoài ra, từ góc nhìn thi pháp học, cuốn sách 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có nhiều bài nghiên cứu phê bình sâu sắc có ảnh hưởng đến các nhà văn và người tiếp nhận đương đại. c) Về phong cách học - Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn học của Hữu Đạt (2002) đã khẳng định tác phẩm văn học là nghệ thuật ngôn từ và đã gắn việc tìm hiểu ngôn ngữ nghệ thuật với phong cách tác giả.
Đây cũng là vấn đề được chúng tôi quan tâm khi tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện [17]. d) Về tự sự học - Tự sự học (T1,T2) do Trần Đình Sử chủ biên là tập sách tổng hợp các bài viết có giá trị về tự sự học của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Ngôn ngữ kể chuyện được các tác giả đề cập đến trên các phương diện như lí thuyết tự sự, tìm hiểu các thuật ngữ trong kể chuyện, quan niệm về điểm nhìn, người kể chuyện, những đổi mới trong nghệ thuật tự sự. [71] - Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện được tác giả Nguyễn Thái Hòa công bố Tại hội nghị "Tự sự học" tổ chức tại Hà Nội tháng 11 năm 2003.
Trong công trình này, tác giả đã phân biệt điểm nhìn trong lời nói và điểm nhìn trong ngôn ngữ nghệ thuật. Ông nhận thấy dù chúng có chung bản chất nhưng chức năng của chúng khác nhau rất rõ. Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và Nam Cao từ lâu đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu có giá trị đều thuộc các lĩnh vực ngữ văn, phong cách học và thi pháp học. Dựa vào nguồn tài liệu có được, chúng tôi xin điểm qua tình hình nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan và Nam Cao như sau: 1.
Tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ kể chuyện của Nguyễn Công Hoan - Từ trước cách mạng tháng Tám, các nhà nghiên cứu đã sớm nhận ra tiếng cười trào phúng trong nghệ thuật kể chuyện của Nguyễn Công Hoan và đã có những bài viết rất sâu sắc như: Trong Một ngòi bút mới: Ông Nguyễn Công Hoan (báo Nam Phong, năm 1932) của Trúc Hà, người đầu tiên phê bình về Nguyễn Công Hoan đã nhận ra giọng văn mới mẻ pha hài hước và có ngụ ý sâu xa về sự đời [27]. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vũ Ngọc Phan trong công trình Nhà văn hiện đại không chỉ nhận ra sở trường của Nguyễn Công Hoan ở thể loại truyện ngắn mà còn nhận xét Nguyễn Công Hoan "rặt tả về những cái chướng tai, gai mắt, cùng đồi phong bại tục, mà phần nhiều đều ngả về mặt hoạt kê" [64, tr. - Sau cách mạng tháng tám các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khẳng định một trong những đặc điểm nổi bật trong văn Nguyễn Công Hoan là chất hài hước, châm biếm. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn sách Con đường đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn (1994) đã đánh giá thế mạnh của Nguyễn Công Hoan là truyện ngắn trào phúng.
Ông khẳng định "Phong cách Nguyễn Công Hoan không thiên về lối thâm trầm kín đáo. Ông thích bốp chát, đánh vỗ ngay vào mặt đối phương. Tiếng cười của Nguyễn Công Hoan, vì thế, thường là những đòn đơn giản mà ác liệt". Các nhà nghiên cứu đã tìm ra thủ pháp gây cười trong văn Nguyễn Công Hoan là: Nguyên tắc lột mặt nạ; nguyên tắc dùng "cái tục"; ngôn ngữ bình dân, suồng sã; Tỉnh lược chủ ngữ câu và phép lặp cú pháp; Tính chất mập mờ, nước đôi, đa nghĩa; Nguyên tắc đối chọi, mâu thuẫn; Đồng nhất khái niệm; Thủ thuật đánh tráo.
- Các công trình nghiên cứu, bài viết về văn Nguyễn Công Hoan sau cách mạng Tháng Tám đã đánh giá về những đóng góp của ông trên nhiều phương diện, trong đó đáng chú ý là những đánh giá về ngôn ngữ kể chuyện. + Về phương thức kể chuyện: Nguyễn Đăng Mạnh nhận xét “Phương thức kể chuyện biến hoá, tài vẽ hình, vẽ cảnh sinh động, khả năng dựng đối thoại có kịch tính, giọng kể tự nhiên, hoạt bát, lối ví von so sánh độc đáo, cách chơi chữ táo bạo, dí dỏm. Trong Ba phong cách truyện ngắn trong Văn học Việt Nam thời kì đầu những năm 1930 đến 1945: Nguyễn Công Hoan - Thạch Lam - Nam Cao, tác giả Nguyễn Ngọc Dung nêu rõ về nghệ thuật trần thuật Nguyễn Công Hoan "đã đánh dấu một bước cách tân quan trọng về nghệ thuật phức điệu hóa", "thường kể chuyện theo nhiều quan điểm và giọng điệu" [13, tr. + Về ngôn ngữ kể chuyện: Nguyễn Hoành Khung nhận định Nguyễn Công Hoan “đã có một ngôn ngữ phong phú sống động rất gần với đời sống, khác hẳn với 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thứ ngôn ngữ sạch sẽ, kiểu cách của Tự lực văn đoàn khi đó.
Văn Nguyễn Công Hoan là thứ văn rất tự nhiên, thoải mái, linh hoạt vô cùng. Ông mạnh dạn đưa lời ăn tiếng nói hàng ngày của quần chúng vào văn chương một cách rộng rãi, khiến văn chương mất hết vẻ đài các, văn chương trở thành ngôn ngữ của đời sống hàng ngày dân dã” [43]. Lê Thị Đức Hạnh, người nghiên cứu rất công phu về Nguyễn Công Hoan đã đánh giá "Những chữ dùng của ông thường giản dị, giàu hình ảnh, cụ thể hay ví von làm cho người đọc dễ có liên tưởng thú vị”. hoặc “Nguyễn Công Hoan luôn giữ cho lời văn, ngôn ngữ trong truyện trong sáng, chính xác, mang bản sắc tiếng nói dân tộc”.
Các nhà nghiên cứu cũng sớm nhận ra sở trường của Nguyễn Công Hoan trong việc miêu tả và xây dựng nhân vật phản diện "Ông sở trường về cách mô tả tư cách hèn hạ, đê tiện hết chỗ nói của bọn quan lại sâu mọt, bọn nha lại, bọn hãnh tiến giàu có sang trọng và khinh người" [85, tr. + Về ngôn ngữ nhân vật: Nhóm tác giả Trần Đình Hượu, Lê Chí Dũng đánh giá: “Đọc ông, độc giả phân biệt rõ đâu là ngôn ngữ của tác giả, đâu là ngôn ngữ của nhân vật, và mỗi nhân vật đều có những ngôn ngữ riêng của mình. Với Nguyễn Công Hoan, có thể nói truyện ngắn hiện đại và ngôn ngữ hiện đại đã hình thành” [40, tr. Nhóm tác giả Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Tú trong cuốn Thi pháp truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan một lần nữa khẳng định sự phong phú của ngôn ngữ nhân vật "Lời văn Nguyễn Công Hoan được tổ chức theo hướng du nhập các tiếng nói xã hội khác nhau theo hình thức nhại.
Có đủ tiếng nói của mọi tầng lớp xã hội vang lên trong thế giới làm trò mà ông là người đạo diễn. Vua phải có giọng của vua. kẻ thứ dân phải có giọng thứ dân. Thằng ăn cắp phải có giọng thằng ăn cắp.