ĐẶT VẤN ĐỀ Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam là một nƣớc có độ che phủ của thảm thực vật rừng chiếm 40,84% lãnh thổ với trên 14 triệu ha rừng (Bộ NN&PTNT, 2016) [2] và nằm trong số 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao trên thế giới. Tỉnh Đồng Nai, cũng nhƣ các địa phƣơng khác trong cả nƣớc rừng tự nhiên suy giảm nhanh chóng do có chỉ tiêu khai thác gỗ từ rừng tự nhiên, do chiến tranh, do di dân tự do từ các tỉnh miền bắc trong những thập kỷ trƣớc. Mất rừng cũng đồng nghĩa với đa dạng sinh học bị suy giảm, một số loài cây quý, hiếm có nhiều giá trị không chỉ về sinh học, sinh thái môi trƣờng mà còn có thể đáp ứng đời sống xã hội khu vực. Nhận thức đƣợc các giá trị to lớn từ rừng mang lại, đƣợc sự quan tâm của lãnh đạo địa phƣơng, ngày 02/12/2003 Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu (Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu), tiền thân là Khu Dự trữ thiên nhiên Vĩnh Cửu, đƣợc thành lập theo Quyết định số 4679/2003/QĐ-UBT của UBND Tỉnh Đồng Nai trên cơ sở sáp nhập lâm phần của các lâm trƣờng Hiếu Liêm, Mã Đà và một phần lâm trƣờng Vĩnh An.
Sau đó tiếp tục sát nhập trung tâm quản lý di tích chiến khu Đ theo Quyết định số 09/2006/QĐ-UBND ngày 20/02/2006 của UBND tỉnh Đồng Nai và sát nhập Ban quản lý rừng phòng hộ Vĩnh An vào KBT theo Quyết định số 2053/QĐ-UBND ngày 27/06/2008 của UBND tỉnh Đồng Nai. Đến ngày 28/8/2010 Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ra Quyết định số 2208/QĐ- UBND về việc đổi tên Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu thành Khu Bảo tồn thiên nhiên - Văn hóa Đồng Nai (Khu Bảo tồn). Khu Bảo tồn trực thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai với tổng diện tích tự nhiên hơn 100.000 ha nằm ở phía bắc của tỉnh Đồng Nai thuộc tiểu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 vùng Bảo tồn sinh thái lƣu vực sông Đồng Nai nằm trong hệ sinh thái Trƣờng Sơn, là một trong 13 vùng ƣu tiên bảo tồn của khu vực Đông Nam [54]. Kết quả điều tra danh lục động, thực vật của Khu Bảo tồn năm 2007 [9] bƣớc đầu ghi nhận: Thực vật có 1.552 loài thuộc 663 chi, 166 họ, 95 bộ và 6 ngành thực vật khác nhau; động vật có: 1.711 loài, gồm: 85 loài thú, 284 loài chim, 64 loài bò sát, 33 ếch nhái, và 1.245 loài côn trùng.
Ngoài ra còn có 108 loài cá và 12 loài tôm nƣớc ngọt. Ngay sau khi đƣợc thành lập cùng với chủ trƣơng đóng cửa rừng của Thủ tƣớng Chính phủ, toàn bộ diện tích rừng thuộc KBT đã và đang đƣợc bảo vệ nghiêm ngặt, nhiều loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao hoặc quý hiếm, đặc hữu đang dần phục hồi và phát triển. Một số loài nhƣ: Huỷnh (Heritiera javanica (Blume) Kosterm, Gõ mật (Sindora siamensis Teijsm ex Miq. có khả năng phục hồi chƣa cao.
Để từng bƣớc thúc đẩy khả năng phục hồi của các loài cây này, Khu bảo tồn cùng các nhà khoa học đã và đang triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật trong đó có cả việc bảo tồn tại chỗ và trồng rừng ở phân khu phục hồi sinh thái. Tuy nhiên, do chƣa có những hiểu biết đầy đủ và đồng bộ về đặc điểm lâm học của các loài cây này mà đặc biệt là loài Huỷnh - một trọng 10 loài cây đƣợc ƣu tiên bảo vệ, phục hồi của KBT nên hiệu quả phục hồi chƣa cao. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên đề tài nghiên cứu: “Đặc điểm lâm học của loài cây Huỷnh (Heritiera javanica (Blume) Kosterm.) phân bố tự nhiên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên – Văn hóa Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai” đã đƣợc triển khai nhằm bổ sung hiểu biết khoa học về đặc điểm lâm học góp phần quan trọng trong công tác chọn loài cây trồng và đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp, phục vụ trồng rừng và kinh doanh rừng, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 do đó việc nghiên cứu chọn lọc các loài cây bản địa có giá trị kinh tế, sinh trƣởng tốt là vấn đề cần thiết hiện nay. Chƣơng 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Trên thế giới 2. Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học Năm 1975, nhà sinh thái học nổi tiếng E.Odum đã phần chia đặc điểm sinh thái học thực vật thành sinh thái học ra thành sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Trong đó, sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hay từng loài, trong đó chu kỳ sống và tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý; ngoài ra các mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trƣởng có thể định lƣợng bằng phƣơng pháp toán học gọi là mô phỏng, phản ánh đặc điểm, quy luật tƣơng quan phức tạp trong tự nhiên [58]. Các phƣơng pháp thực nghiệm sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phƣơng pháp điều tra đánh giá đƣợc trình bày trong cuốn “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen D.Lacher (1978), chỉ rõ các vấn đề nghiên cứu trong sinh thái thực vật nhƣ sự thích nghi ở các điều kiện: dinh dƣỡng khoáng, ánh sáng, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, nhịp điệu khí hậu.
Bên cạnh đó, nhiều nhà khoa học lại nghiên cứu sâu hơn về cấu trúc lâm phần và các quy luật cơ bản của lâm phần rừng, cụ thể nhƣ: Phƣơng pháp kinh điển khi nghiên cứu cấu trúc rừng theo chiều thẳng đứng là vẽ trắc đồ đứng, trắc đồ đã mang lại hình ảnh khái quát về cấu trúc tầng tán và phân bố số cây theo chiều cao, từ đó rút ra nhận xét và đề xuất ứng dụng trong thực tế. Phƣơng pháp này đƣợc nhiều nhà nghiên cứu rừng nhiệt đới áp dụng mà điển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 hình là các công trình của P. Các công trình nghiên cứu phân bố số cây theo đƣờng kính của Meyer (1952), đã mô tả phân bố số cây theo đƣờng kính bằng phƣơng trình toán học có dạng đƣờng cong giảm liên tục. Các nghiên cứu của các tác giả nêu trên cho thấy, chiều cao tƣơng ứng với mỗi cỡ đƣờng kính của cây cho trƣớc luôn tăng theo tuổi, đó là kết quả tự nhiên của sự phân cấp sinh trƣởng trong một cỡ đƣờng kính xác định, ở các cấp tuổi khác nhau sẽ có các cây thuộc cấp sinh trƣởng khác nhau.
Cấp sinh trƣởng càng giảm khi tuổi lâm phần càng tăng dẫn đến tỷ lệ H-D tăng theo tuổi. Một số nhà khoa học khác khác nhƣ Zieger (1928), Willing (1948) lại kết luận, có mối quan hệ mật thiết giữa đƣờng kính tán với đƣờng kính ngang ngực tuỳ theo loài cây và các điều kiện sinh trƣởng khác nhau mối liên hệ này đƣợc biểu hiện khác nhau nhƣng phổ biến nhất là dạng phƣơng trình đƣờng thẳng: Dt = a + b. Khi nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới van Steenis.J (1956), đã nêu ra 2 đặc điểm tái sinh phổ biến đó là: Tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và kiểu tái sinh vệt thích hợp với các loài cây ƣa sáng. Khi nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới đáng chú ý là công trình của P.Richards (1952), ở Châu Phi, Taylor (1954), Benard (1955), xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần phải bổ sung bằng cách trồng rừng.
Các tác giả nghiên cứu tái sinh rừng nhiệt đới Châu Á nhƣ Budwski (1956), Bara (1954), Catinot (1965) lại cho rằng: ''dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế cao, do vậy các biện pháp kỹ thuật lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ cây tái sinh sẵn có dưới tán rừng''. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Trong nghiên cứu sinh thái học nhằm quản lý rừng bền vững, mọi nhận xét đƣợc nhiều nhà lâm học biết đến là ''khi các kiến thức khoa học về hệ sinh thái rừng còn chưa hoàn chỉnh, việc xác định những hiểu biết về mặt lâm học, về sinh thái học nhằm quản lý rừng tự nhiên theo cách giữ vững một cách nguyên vẹn là có thể chấp nhận được và có thể áp dụng được cho tất cả các kiểu rừng khác nhau, kể cả rừng nhiệt đới ẩm'' (Juergen Balasse và Jim Douglas, 2000). Vào đầu thế kỷ XX, nhà bác học ngƣời Nga V.Doocuchaep, đã chỉ ra rằng: Phạm vi phân bố địa lý của thực vật đƣợc xác định bởi điều kiện độ ẩm khí hậu. Điều kiện đó phụ thuộc vào lƣợng mƣa và lƣợng bốc hơi do tác dụng của nhiệt độ [58].
Từ các nghiên cứu về rừng tự nhiên nói trên, có thể thấy rõ các nghiên cứu này đã đóng góp nhiều trong phƣơng pháp luận; là cơ sở khoa học và phƣơng pháp khi nghiên cứu rừng tự nhiên. Tuy nhiên, các nghiên cứu chủ yếu đề cập đến cấu trúc, động thái, diễn thế và sinh thái chung của rừng tự nhiên và mới chỉ ở một số đối tƣợng nhất định nên còn hạn chế, chƣa toàn diện; cần đƣợc kiểm chứng bổ sung và hiệu chỉnh cho phù hợp với đối tƣợng rộng hơn. Nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài cây Một trong những nội dung hết sức cơ bản, khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của một loài cây chính là nghiên cứu đặc điểm cấu trúc lâm phần nơi có loài cây đó phân bố. Vì vậy, để có cái nhìn toàn diện và chính xác hơn về cấu trúc phức tạp của rừng nhiệt đới.
Các nghiên cứu cấu trúc rừng, đƣợc chuyển dần từ mô tả định tính sang định lƣợng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả. Vấn đề LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 về cấu trúc không gian và thời gian của rừng, các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất. Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểu nhƣ: B.Rollet (1971), đã biểu diễn các quan hệ chiều cao vút ngọn với đƣờng kính ngang ngực; đƣờng kính tán với đƣờng kính ngang ngực bằng các hàm hồi quy; phân bố đƣờng kính tán, đƣờng kính thân cây dƣới dạng các phân bố xác suất; Balley (1973) mô hình hoá cấu trúc thân cây với phân bố số cây theo cỡ kính (N-D) bằng hàm Weibull. Nhiều tác giả khác dùng hàm Schumacher, hyperbol, hàm mũ, Poisson, Charlier,.
để mô hình hoá cấu trúc rừng [21]. Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việc phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái [22].