Luận án tiến sĩ đặc điểm dịch tễ học lâm sàng nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh và hiệu quả điều trị dự phòng bằng fluconazole trên trẻ đẻ non

Luận án nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học lâm sàng nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh và hiệu quả điều trị dự phòng bằng fluconazole trên trẻ đẻ non.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nhi khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ y học
161
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC NẤM GÂY BỆNH Ở NGƯỜI

1.2. DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG NHIỄM NẤM Ở TRẺ SƠ SINH

1.3. CÁC THUỐC KHÁNG NẤM

1.4. DỰ PHÒNG NẤM CHO TRẺ ĐẺ NON

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3. Xử lý và phân tích số liệu

2.4. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU 1

3.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU 2

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC LÂM SÀNG NHIỄM NẤM Ở TRẺ SƠ SINH

4.2. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ PHÒNG NẤM BẰNG FLUCONAZOLE TRÊN TRẺ ĐẺ NON

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Dịch tễ học nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh

Nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt ở trẻ đẻ non và trẻ có cân nặng thấp. Dịch tễ học cho thấy, tỷ lệ nhiễm nấm cao hơn ở các trẻ được điều trị trong môi trường bệnh viện, nơi có nhiều yếu tố nguy cơ như sử dụng kháng sinh phổ rộng, đặt catheter tĩnh mạch, và hỗ trợ hô hấp. Nhiễm nấm chủ yếu do các loài Candida, đặc biệt là Candida albicans và Candida parapsilosis. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi thai thấp, cân nặng lúc sinh thấp, và sử dụng corticosteroids sau sinh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, nhiễm nấm bệnh viện là nguyên nhân hàng đầu làm tăng tỷ lệ tử vong và kéo dài thời gian điều trị.

1.1. Yếu tố nguy cơ và đặc điểm lâm sàng

Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm tuổi thai thấp, cân nặng lúc sinh dưới 1500g, và sử dụng kháng sinh phổ rộng kéo dài. Đặc điểm lâm sàng của nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh thường không đặc hiệu, bao gồm sốt, suy hô hấp, và các dấu hiệu nhiễm trùng toàn thân. Cận lâm sàng thường cho thấy tăng bạch cầu và CRP. Nhiễm nấm có thể dẫn đến các biến chứng nặng như viêm phổi, viêm màng não, và nhiễm trùng huyết.

1.2. Phân bố và chủng nấm gây bệnh

Candida albicans là chủng nấm phổ biến nhất, chiếm khoảng 60-70% các trường hợp nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh. Candida parapsilosis và các loài nấm khác như Aspergillus và Cryptococcus cũng được ghi nhận nhưng ít phổ biến hơn. Phân bố của các chủng nấm này thay đổi tùy theo địa lý và điều kiện môi trường. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các chủng nấm kháng thuốc đang gia tăng, đặc biệt là ở các bệnh viện lớn.

II. Hiệu quả điều trị dự phòng bằng fluconazole

Fluconazole là một thuốc kháng nấm phổ rộng, được sử dụng rộng rãi trong điều trị và dự phòng nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh. Nghiên cứu cho thấy, điều trị dự phòng bằng fluconazole giúp giảm đáng kể tỷ lệ nhiễm nấm ở trẻ đẻ non, đặc biệt là những trẻ có cân nặng rất thấp. Hiệu quả điều trị được đánh giá qua việc giảm tỷ lệ tử vong và các biến chứng liên quan đến nhiễm nấm. Tuy nhiên, việc sử dụng fluconazole cần được theo dõi chặt chẽ để tránh các tác dụng phụ như độc tính gan và kháng thuốc.

2.1. Cơ chế tác động của fluconazole

Fluconazole ức chế enzyme cytochrome P450, ngăn chặn quá trình tổng hợp ergosterol, một thành phần quan trọng của màng tế bào nấm. Điều này dẫn đến sự phá hủy màng tế bào và tiêu diệt nấm. Thuốc chống nấm này có khả năng thấm tốt vào các mô và dịch cơ thể, bao gồm cả dịch não tủy, làm cho nó hiệu quả trong điều trị các nhiễm nấm hệ thống.

2.2. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tế

Các nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng, điều trị dự phòng bằng fluconazole giúp giảm tỷ lệ nhiễm nấm từ 20% xuống còn dưới 5% ở trẻ đẻ non. Hiệu quả điều trị cũng được thể hiện qua việc giảm thời gian nằm viện và chi phí điều trị. Tuy nhiên, cần có các hướng dẫn cụ thể về liều lượng và thời gian sử dụng để tối ưu hóa hiệu quả và giảm thiểu tác dụng phụ.

III. Phòng ngừa và quản lý nhiễm nấm ở trẻ sơ sinh

Phòng ngừa nhiễm nấm là một phần quan trọng trong chăm sóc trẻ sơ sinh, đặc biệt là trẻ đẻ non. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm vệ sinh môi trường bệnh viện, hạn chế sử dụng kháng sinh không cần thiết, và sử dụng thuốc chống nấm dự phòng như fluconazole. Quản lý nhiễm nấm cần được thực hiện bởi một đội ngũ đa chuyên khoa, bao gồm bác sĩ nhi khoa, dược sĩ, và chuyên gia về bệnh truyền nhiễm.

3.1. Chiến lược phòng ngừa

Các chiến lược phòng ngừa bao gồm giáo dục nhân viên y tế về vệ sinh tay, sử dụng catheter tĩnh mạch đúng cách, và hạn chế thời gian sử dụng kháng sinh. Phòng ngừa nhiễm nấm cũng bao gồm việc sàng lọc và điều trị sớm các trường hợp nghi ngờ nhiễm nấm.

3.2. Quản lý và theo dõi điều trị

Quản lý nhiễm nấm cần được thực hiện dựa trên các hướng dẫn lâm sàng và kết quả xét nghiệm vi sinh. Theo dõi chặt chẽ các tác dụng phụ của thuốc chống nấm và điều chỉnh liều lượng khi cần thiết là những yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả điều trị và an toàn cho bệnh nhân.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC NẤM GÂY BỆNH Ở NGƯỜI Nấm (Fungi hoặc Mycetes) là những sinh vật, cơ thể được cấu tạo bởi một hoặc nhiều tế bào.000 loài nấm đã được mô tả cho đến nay, mặc dù tổng số loài ước tính khoảng 1,5 triệu [1], [2], [3]. Vi nấm (Microfungi) là tất cả các loài nấm không thể quan sát được bằng mắt thường. Để nghiên cứu vi nấm bắt buộc phải quan sát dưới kính hiển vi và phải nuôi cấy trong các điều kiện vô khuẩn như đối với vi khuẩn.

Căn cứ vào hình thái người ta chia vi nấm thành hai nhóm khác nhau: nhóm nấm men (Yeast) và nhóm nấm sợi (Filamentous fungi). Hai nhóm này khác nhau về hình thái chứ không phải là những phân loại riêng biệt. Nhiều nấm men cũng có dạng sợi và rất khó phân biệt với nấm sợi. Ngoài ra còn có dạng lưỡng hình (Dimorphic) có thể phát triển như nấm sợi (ở môi trường) hoặc nấm men (ở người).

Nấm không phải là sinh vật tự dưỡng vì tế bào nấm không có diệp lục nên không thể tự tổng hợp được cacbonhydrat và protein từ các chất đơn giản. Nấm là sinh vật dị dưỡng, nấm sống theo kiểu hoại sinh trên những cơ thể động vật hay thực vật đã chết hoặc sống theo kiểu ký sinh trên những phần cơ thể sống khác, một số loài nấm có thể sống theo cả hai cách trên. Hình dạng đại thể của nấm Tế bào nấm phát triển rồi phân nhánh tạo nên sợi nấm, các sợi nấm tiếp tục phát triển phân nhánh tạo nên hệ sợi nấm. Trong sợi nấm có vách ngăn phân chia các tế bào nấm với nhau.

Những hệ sợi nấm này tạo thành các khuẩn lạc mà mắt người bình thường có thể quan sát được. 4 Theo chức năng, đặc điểm của từng hệ sợi nấm mà người ta thường chia làm hai loại hệ sợi:  Hệ sợi nấm cơ chất: phát triển ăn sâu vào cơ chất (môi trường), lấy thức ăn từ môi trường xung quanh để dinh dưỡng và phát triển.  Hệ sợi nấm không khí: phát triển trên bề mặt môi trường và thường nhô lên trên. Hệ sợi nấm này gồm những sợi nấm không có cơ quan sinh sản và những loại sợi nấm “không khí”, những sợi nấm này mang những cơ quan sinh sản vô tính hay hữu tính.

Cấu tạo của tế bào nấm Lá giữa Thành tế bào Màng tế bào Thể lục lạp Nhân Ty thể Thể Cytosol Thể Ribosome Không bào Lưới nội bào Thể Golgi Nguồn: Clinical Mycology 2nd Hình 1. Cấu tạo tế bào nấm 5 1. Vỏ tế bào Vỏ tế bào nấm là một màng được cấu tạo bởi polysaccarit hoặc mucopolysaccarit. Lớp vỏ này bảo vệ tế bào nấm, giữ độ ẩm thích hợp.

Cấu tạo hóa học của vỏ tế bào giống như cấu tạo của thành tế bào và có một số thành phần khác như mannan (poly-D-mandoza), photphomannan hoặc heoxoza (D-glucoza) và pentoza (D-xiloza, D-arabinoza) [1]. Thành tế bào Thành tế bào có nhiệm vụ giữ cho tế bào nấm có hình dạng nhất định. Thành tế bào được cấu tạo bởi hỗn hợp protit - polysaccarit. Trong hỗn hợp này thành phần polysaccarit thay đổi nhiều ít khác nhau đặc trưng cho từng nhóm nấm và dựa vào đó có thể phân loại các nhóm nấm.

Phần polysaccarit có cấu trúc phức tạp và có vai trò quan trọng trong miễn dịch. Các thành phần cấu tạo chính của màng tế bào nấm bao gồm glucan, cellulose, chitine, chitosan, mannan, protein và lipid. Màng tế bào Hình 1. Cấu trúc thành tế bào nấm 6 1.

Thể Lomasome Thể lomasome là một cơ quan chỉ có trong tế bào nấm, lomasome là một phần của tiền màng nguyên sinh chất (periplasma) nằm ở giữa thành tế bào và màng nguyên sinh chất. Lomasome được xây dựng bởi một hệ màng xoắn, có liên quan đến sự tạo thành tế bào của sợi nấm. Ty thể Thể Lomasome Không bào Thành tế bào Màng nguyên sinh chất Nhân Hạch nhân Lưới nội bào Màng nhân Thể Ribosome Nguồn: Slideshare. Vị trí của lomasome 1.

Màng nguyên sinh chất Màng nguyên sinh chất của tế bào nấm có hai lớp, cấu tạo bởi hỗn hợp protit và lipit là chủ yếu, ngoài ra còn có một phần polysaccarit. Màng nguyên sinh chất ngăn cách giữa thành tế bào và chất nguyên sinh. Trong tế bào nấm màng nguyên sinh chất thường tạo ra lưới nội nguyên sinh, màng nhân và màng của không bào [4]. Nguyên sinh chất (bào tương) Nguyên sinh chất trong tế bào nấm là một chất lỏng, có các thành phần chủ yếu là protit, ribonucleoprotein, lipid, glucid và nước.

Ở các tế bào nấm còn non bào tương tương đối thuần nhất, ở các tế bào nấm càng già càng có nhiều không bào dự trữ. Ty thể Được cấu tạo bởi hai lớp màng, cấu trúc của hai lớp màng này giống như cấu trúc màng nguyên sinh chất. Trên bề mặt màng ty thể có những hạt nhỏ hình cầu (oxyxom), có chức năng sinh năng lượng (tổng hợp ATP) và giải phóng năng lượng. Nhân tế bào Bao bọc bên ngoài nhân tế bào nấm là màng nhân, bên trong chứa dịch nhân có chứa hạch nhân (nucleolus).

Nhân tế bào nấm hình cầu hoặc hình bầu dục, đặc. Nấm men chỉ có một nhân, nấm sợi có nhiều nhân. Nhân của nấm thường nhỏ, khó thấy rõ dưới kính hiển vi quang học. Trong hạch nhân của tế bào nấm có DNA như ở vi khuẩn, được tổ chức thành nhiễm sắc thể điển hình và có quá trình phân bào nguyên nhiễm (mitosis).

Số lượng nhiễm sắc thể trong tế bào khác nhau tùy thuộc vào từng loại nấm. Nhiễm sắc thể trong nhân thường không dễ nhuộm màu, số lượng tương đối nhỏ. Số lượng này là 6 ở các nấm Magnaporthe grisea, Paecilomyces fumosoroseus, Trichoderma reesei; là 7 ở các nấm Histoplasma capsulatum, Neurospora crassa, Phenaerchateae chrysosporium, Podospora anserina, là 8 ở các nấm Aspergillus nidulans, Aspergillus niger, Acremonium chrysogenum, Beauveria basiana, Lentinus edodes, là 10 ở nấm Penicillium janthinellum, là 11 ở nấm Schizophyllum commune, là 12 ở nấm Curvularia lunata, là 13 ở nấm Agaricus bisporus, là 15 ở nấm Cyanidioschyzon merolae và là 20 ở nấm Ustilago maydis… 8 1. Các thành phần khác Trong tế bào nấm còn có các cơ quan giống như trong tế bào các sinh vật có nhân thực (Eukaryote) khác.

Đó là mạng nội chất (endoplasmic reticulum), dịch bào hay không bào (vacuolus), ribosome, bào nang (vesicle), thể golgi sinh bào nang (Golgi body, Golgi apparatus, dictyosome), các giọt lipid (lipid droplet), các tinh thể (chrystal) và các vi thể đường kính 0,5 - 1,5 nm (microbody), các thể woronin đường kính 0,2μm, thể chitosome đường kính 40 - 70nm… Ngoài ra trong tế bào chất còn có các vi quản rỗng ruột, đường kính 25nm (microtubule), các vi sợi đường kính 5 - 8nm (microfilament), các thể màng biên ( plasmalemmasome), plasmit chứa các chất như protit, lipid, glucid, enzyme, muối vô cơ, các chất điện phân và các chất hữu cơ hòa tan. Đặc điểm cấu trúc và sinh sản của nấm Nấm có hai bộ phận chính: bộ phận dinh dưỡng và bộ phận sinh sản. Bộ phận dinh dưỡng của nấm Nấm gây bệnh thường có kích thước nhỏ, chỉ quan sát được dưới kính hiển vi nên thường gọi là vi nấm. Dựa vào hình thể, vi nấm được chia ra làm hai nhóm chính: Nấm men: cấu tạo đơn bào, có hình tròn hoặc bầu dục, kích thước 3 - 15µm.

Nấm sợi: gồm những sợi tơ nấm có cấu tạo đa bào. Sợi nấm chia nhánh chằng chịt, ken chặt vào nhau tạo thành những khóm nấm. Nấm Candida khi ký sinh cũng tạo thành những sợi giả để xâm nhập sâu vào trong tổ chức. Cấu tạo sợi nấm (hypha): có hai loại là sợi không vách ngăn có đường kính lớn (> 5 µm) và sợi có vách ngăn có đường kính nhỏ (2 - 4 µm), trong ống tế bào có nguyên sinh chất và nhân [4].

9 Không bào sợi nấm Chồi sinh trưởng Nhân của tế bào sợi nấm Thành tế bào Màng tế bào Thể Golgi Ty thể Lưới Nhân nội bào Nguồn: Slideshare. Cấu tạo sợi nấm Đầu sợi nấm có hình viên trụ, phần đầu gọi là vùng kéo dài (extension zone). Lúc sợi nấm sinh trưởng mạnh mẽ đây là vùng thành tế bào phát triển nhanh chóng, vùng này có thể dài đến 30 μm. Dưới phần này thành tế bào dày lên và không sinh trưởng thêm được nữa.

Màng nguyên sinh chất thường bám sát vào thành tế bào. Trên màng nguyên sinh chất có một số phần có kết cấu nếp gấp hay xoắn lại, người ta gọi là biên thể màng (plasmalemmasome) hay biên thể (lomasome). Nhiều khi chúng có tác dụng tiết xuất các chất nào đó. Bộ phận sinh sản của nấm Nấm sinh ra nhiều loại bào tử có hình thể và kích thước khác nhau.

Người ta căn cứ vào hình thể, kích thước và cách sắp xếp bào tử của nấm để định loại nấm. 10 Lớp Actinomycetes không có bộ phận sinh sản, khi rơi vào vị trí mới, gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển thành khóm nấm. Các lớp nấm khác có những bộ phận sinh sản vô tính hoặc hữu tính tùy theo phương thức sinh sản. Vòng đời của Ascomycete Sinh sản vô tính Sinh sản hữu tính Nguồn: Clinical Mycology 2nd Hình 1.

Sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính ở lớp Ascomycetes 11 Phương thức sinh sản hữu tính: là sự phân chia có sự phối hợp nhân gồm các loại bào tử hữu tính như bào tử nang (ascospore), bào tử tiếp hợp (zygospore), bào tử noãn (oospore), bào tử đảm (basidiospore). Phương thức sinh sản vô tính: là sự phân chia không có sự phối hợp nhân, đó là các loại bào tử vô tính, thường là do sợi nấm sinh ra, làm nhiệm vụ phát triển hoặc dự trữ hoặc làm cả hai nhiệm vụ trên. Bào tử dự trữ thường có bào tương đặc và giàu chất dinh dưỡng. Bào tử dự trữ gồm: bào tử màng dày (chlamydoconidium), bào tử phấn (alcurioconidium), bào tử hình thoi (fusiform).

Bào tử phát triển có hai loại:  Sinh ra từ thân nấm (thalic) gồm các bào tử mầm (blastoconidium), bào tử đốt (athroconidium), bào tử phấn (aleurioconidium) - đây là bào tử dự trữ nhưng đôi khi làm cả nhiệm vụ phát triển.  Sinh từ thân nấm thành những tế bào riêng nhưng vẫn dính liền với thân nấm gọi là bào tử đính (connidium). Bào tử loại này khác nhau về kích thước, hình dạng và màu sắc, chúng có thể tạo thành khối hoặc chuỗi có hình chai, hình chổi hoặc hình hoa cúc. Nấm men sinh sản theo một quá trình gọi là nảy chồi.

Một chồi nhỏ thường mọc ở phần cực của tế bào nấm, chồi này phình to ra và hình thành nên một tế bào con để rồi cuối cùng tách khỏi tế bào mẹ. Ở một vài loại nấm men các chồi này kéo dài ra, có loại tế bào dính vào nhau tạo thành chuỗi gọi là dạng giả sợi.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ