Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro Ngân hàng Thương mại Việt Nam

Nghiên cứu phân tích chuyên sâu về tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Việt Nam qua các mô hình định lượng.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm đa dạng hóa thu nhập và rủi ro ngân hàng

Đa dạng hóa thu nhập là chiến lược quan trọng mà các ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTM) áp dụng để giảm phụ thuộc vào thu nhập lãi truyền thống. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, các NHTM không thể chỉ dựa vào hoạt động cho vay để sinh lợi. Rủi ro của ngân hàng bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Việc đa dạng hóa hoạt động ngân hàng thông qua thu nhập ngoài lãi (từ dịch vụ, chứng khoán, ngoại hối) có thể vừa tăng lợi nhuận vừa giảm rủi ro tập trung. Tuy nhiên, việc mở rộng sang các hoạt động mới cũng đồng thời mang lại những rủi ro mới mà các NHTM cần quản lý cẩn thận.

1.1. Đa dạng hóa thu nhập trong hoạt động NHTM

Thu nhập ngoài lãi của các ngân hàng bao gồm thu nhập từ dịch vụ (phí giao dịch, phí tư vấn), thu nhập từ kinh doanh chứng khoánngoại hối. Chiến lược đa dạng hóa hoạt động giúp NHTM giảm sự phụ thuộc vào lãi suất cho vay. Trong giai đoạn 2014-2023, nhiều ngân hàng Việt Nam đã tăng tỷ trọng thu nhập ngoài lãi từ 15-20% lên 25-30% tổng thu nhập.

1.2. Các loại rủi ro của ngân hàng thương mại

Rủi ro tín dụng là nguy hiểm chính khi cho vay, liên quan đến khả năng khách hàng trả nợ. Rủi ro hoạt động phát sinh từ quy trình nội bộ, con người và công nghệ. Rủi ro thị trường xuất phát từ biến động giá chứng khoán, lãi suất và tỷ giá. Khi NHTM đa dạng hóa, ngoài rủi ro tín dụng truyền thống, chúng còn phải đối mặt với rủi ro hoạt động cao hơn.

II. Thực trạng đa dạng hóa thu nhập các NHTM Việt Nam

Trong những năm gần đây, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã thực hiện đa dạng hóa thu nhập một cách liên tục. Theo khóa luận tốt nghiệp từ Học viện Ngân hàng, doanh thu ngoài lãi của các NHTM tăng từ 20% năm 2014 lên gần 30% năm 2023. Điều này phản ánh nỗ lực của các ngân hàng Việt Nam trong việc phát triển dịch vụ ngân hàng bao trùm từ chứng khoán, ngoại hối đến bảo hiểm. Tuy nhiên, sự đa dạng hóa hoạt động này cũng đi kèm với những thách thức về quản lý rủi ro hoạt độngrủi ro thị trường.

2.1. Tình hình đa dạng hóa thu nhập từ 2014 2023

Thu nhập ngoài lãi của 20 NHTM lớn nhất Việt Nam đã tăng đáng kể qua giai đoạn này. Doanh thu từ dịch vụ (phí, hoa hồng) chiếm phần lớn, tiếp đó là thu nhập từ chứng khoán và ngoại hối. Mức tăng trưởng thu nhập ngoài lãi đạt 8-12% hàng năm, cao hơn tốc độ tăng lãi suất cho vay.

2.2. Cơ cấu thu nhập của ngân hàng Việt Nam

Hiện nay, cơ cấu doanh thu NHTM không còn đơn thuần chỉ từ lãi suất cho vay. Đa dạng hóa dịch vụ bao gồm: dịch vụ thanh toán, bảo hiểm, quản lý quỹ, và tư vấn tài chính. Tuy nhiên, rủi ro hoạt động tăng theo tỷ lệ phức tạp của các hoạt động mới này.

III. Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro NHTM

Nghiên cứu từ Học viện Ngân hàng cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa đa dạng hóa thu nhậprủi ro ngân hàng. Kết quả hồi quy GLS cho thấy đa dạng hóa hoạt động giảm rủi ro tín dụng nhưng tăng rủi ro hoạt động của NHTM. Cụ thể, khi tỷ lệ thu nhập ngoài lãi tăng 1%, rủi ro tín dụng giảm khoảng 0,15-0,25%, nhưng rủi ro hoạt động lại tăng 0,08-0,12%. Điều này chứng minh rằng đa dạng hóa dịch vụ ngân hàngcon dao hai lưỡi – vừa mang lợi ích vừa gây rủi ro cho các NHTM.

3.1. Tác động tích cực đến rủi ro tín dụng

Khi đa dạng hóa hoạt động, các NHTM không phụ thuộc quá nhiều vào cho vay tín chấp. Giảm rủi ro tín dụng giúp ngân hàng hạ thấp tỷ lệ nợ xấu. Theo phân tích dữ liệu 20 NHTM, những ngân hàng có tỷ lệ doanh thu ngoài lãi cao hơn có dư nợ xấu thấp hơn 2-3%.

3.2. Tác động tiêu cực đến rủi ro hoạt động

Đa dạng hóa dịch vụ tạo ra rủi ro hoạt động lớn hơn do tăng độ phức tạp quản lý. Rủi ro con người, rủi ro công nghệrủi ro tuân thủ đều gia tăng. Các NHTM cần đầu tư lớn vào hệ thống ITđào tạo nhân sự để kiểm soát những rủi ro này.

IV. Khuyến nghị cho các NHTM Việt Nam

Để tối ưu hóa chiến lược đa dạng hóa thu nhập mà vẫn kiểm soát rủi ro, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần thực hiện một số biện pháp. Thứ nhất, xây dựng hệ thống quản lý rủi ro hoạt động mạnh mẽ, bao gồm kiểm soát nội bộ chặt chẽ và tuân thủ quy định. Thứ hai, phát triển năng lực nhân sự thông qua đào tạo chuyên môn về các dịch vụ mới. Thứ ba, ứng dụng công nghệ số để tự động hóa quy trình và giảm rủi ro hoạt động. Cuối cùng, NHTM nên cân bằng tỷ lệ thu nhập lãi và ngoài lãi ở mức tối ưu (khoảng 65-70% từ lãi suất, 30-35% từ ngoài lãi) để vừa giảm rủi ro vừa tăng lợi nhuận.

4.1. Cải thiện quản lý rủi ro hoạt động

Các NHTM cần thiết lập bộ phận quản lý rủi ro độc lập với bộ phận kinh doanh. Kiểm soát nội bộ phải được thực hiện định kỳ trên tất cả hoạt động ngoài lãi. Xây dựng quy trình chuẩn hóa cho các dịch vụ mới, đặc biệt là hoạt động chứng khoán và ngoại hối.

4.2. Phát triển công nghệ và con người

Đầu tư công nghệ thông tin là yếu tố then chốt để NHTM Việt Nam giảm rủi ro hoạt động. Các ngân hàng nên sử dụng AI và big data để phát hiện gian lận, quản lý rủi ro. Đồng thời, đào tạo nhân sự cho các lĩnh vực dịch vụ ngân hàng mới sẽ nâng cao chất lượng quản lý rủi ro hoạt động.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về đa dạng hóa thu nhập và rủi ro của NHTM 1. Đa dạng hóa thu nhập 1. Khái niệm Khái niệm đa dạng hóa thu nhập xuất phát từ việc đa dạng hóa đầu tư.

Đa dạng hóa đầu tư là chiến lược mà các nhà đầu tư phân bổ vốn vào nhiều loại hình đầu tư khác nhau. Khi một lĩnh vực đầu tư gặp khó khăn trong khi lĩnh vực khác đang phát triển, việc đầu tư đa dạng giúp giảm thiểu rủi ro. Thông thường, các khoản đầu tư có lợi suất cao thường đi kèm với rủi ro cao, và ngược lại, các khoản đầu tư có lợi suất thấp thường có rủi ro thấp. Bằng cách phân bổ vốn vào nhiều lĩnh vực và dự án khác nhau, nhà đầu tư có thể giảm thiểu rủi ro.

Cũng tương tự đối với ngân hàng, NHTM có HĐKD truyền thống là hoạt động tín dụng đem lại thu nhập từ lãi vay. Nhưng trước áp lực cạnh tranh từ các đối thủ trong và ngoài nước, cải cách quy định, cải tiến công nghệ và sự gia tăng của các định chế tài chính, ngân hàng phải đa dạng hóa bằng cách chuyển dịch thu nhập từ các hoạt động cho vay truyền thống sang các hoạt động phi lãi (Brei & cộng sự, 2019). Từ đó, NHTM có 2 nguồn thu nhập, đó là: thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi. Thu nhập từ lãi: là các nguồn thu nhập phát sinh từ HĐKD truyền thống của ngân hàng, đây là nguồn thu chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn thu của ngân hàng.

Khoản thu nhập này cũng bị ảnh hưởng bởi chênh lệch lãi suất hay mức lãi mà ngân hàng nhận được khi thảo thuận với khách hàng. Thu nhập từ lãi có các loại: - Thu lãi cho vay: là số tiền mà NHTM thu được từ việc cung cấp khoản vay cho cá nhân hoặc doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế hoặc các tổ chức tín dụng khác. - Thu lãi tiền gửi: là số tiền mà NHTM nhận được từ các khoản tiền gửi có kỳ hạn tại NHNN, các tổ chức tín dụng khác và nguồn thu từ số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc. - Thu lãi từ đầu tư chứng khoán: các khoản thu từ hoạt động nắm giữ giấy tờ có giá (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Tổ chức tín dụng, trái phiếu doanh nghiệp, tín phiếu Kho bạc.

- Thu lãi từ cho thuê tài chính và thu lãi khác 11 Thu nhập ngoài lãi: là các nguồn thu nhập từ các hoạt động dịch vụ, kinh doanh ngoại hối, vàng bạc, đá quý; kinh doanh chứng khoán và các hoạt động dịch vụ khác. Nguồn thu nhập của NHTM rất đa dạng từ những hoạt động được pháp luật của từng quốc gia cho phép. Nguồn thu nhập ngoài lãi nhìn chung chiếm tỷ trọng nhỏ hơn so với nguồn thu ngoài lãi, do đó thu nhập ngoài lãi tiềm ẩn ít rủi ro hơn so với thu từ lãi và ít phụ thuộc vào biến động lãi suất thị trường. Nhìn chung, thu nhập ngoài lãi của ngân hàng bao gồm: - Thu nhập từ hoạt động dịch vụ: thu từ dịch vụ thanh toán, dịch vụ ngân quỹ, thu từ nghiệp vụ ủy thác và đại úy.

- Thu nhập từ HĐKD ngoại hối: HĐKD tiền tệ giao ngay (đổi tiền ngoại tệ) hoặc từ các công cụ phái sinh tiền tệ - Thu nhập từ mua bán chứng khoán kinh doanh: các NHTM cũng như các định chế tài chính khác có thể mua bán chứng khoán trong thời gian ngắn để thu về khoản chệnh lệch về giá chứng khoán. - Thu nhập từ hoạt động đầu tư: là các khoản góp vốn mua cổ phần trong doanh nghiệp, góp vốn mua cổ phần thành lập công ty con, góp vốn liên doanh liên kết. - Các khoản thu nhập khác: là các hoạt động mang tính không thường xuyên tại NHTM như thanh lý tài sản, mua bán nợ, thu từ nợ xấu đã xử lý rủi ro, cho thuê tài sản. Theo Rose & Hudgins (2006), hoạt động đa dạng hóa thu nhập trong ngân hàng được hiểu qua sự thay đổi tỷ lệ giữa thu nhập từ lãi và thu nhập ngoài lãi, và cũng thông qua sự thay đổi trong cơ cấu các loại thu nhập đó.

Nếu nguồn thu nhập của ngân hàng chỉ đến từ lãi, ta gọi đó là mô hình tập trung; nhưng nếu nguồn thu này được phân phối giữa thu nhập từ lãi và các nguồn thu khác, ta gọi đó là mô hình đa dạng hóa. Hoạt động đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng thường tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh thương mại và các dịch vụ tạo phí và hoa hồng. Thông qua việc đa dạng hóa thu nhập, ngân hàng không chỉ tập trung vào các lĩnh vực truyền thống mà còn mở rộng sang các hoạt động thương mại khác, từ đó tạo ra nguồn thu nhập đa dạng hơn. Bà Nguyễn Thị Hiền, Phó Viện trưởng Viện chiến lược ngân hàng, NHNN, đã chia sẻ về hai vấn đề tiềm ẩn đối với ngân hàng trong tương lai nếu cơ cấu thu nhập vẫn tập trung chủ yếu vào hoạt động tín dụng.

Trước hết, khi dịch vụ tài chính và nền kinh 12 tế phát triển, doanh nghiệp sẽ tìm kiếm nhiều kênh huy động vốn ngoài ngân hàng, dẫn đến sự ảnh hưởng đến biên lợi nhuận từ hoạt động tín dụng. Mặt khác, xu hướng chuyển đổi số cùng với sự hội nhập sâu rộng hơn sẽ mở ra nhiều cơ hội để mở rộng và phát triển các dịch vụ ngân hàng, từ đó thay đổi cơ cấu thu nhập và tăng tỷ trọng thu nhập từ các dịch vụ trong tổng thu nhập của các ngân hàng tại Việt Nam. Bối cảnh này không chỉ là cơ hội mà còn là thách thức lớn đối với ngành ngân hàng Việt Nam. Do đó, việc xây dựng chiến lược phát triển cho ngành ngân hàng, đặc biệt là trong việc điều chỉnh cơ cấu thu nhập của ngành, trở thành một yếu tố cần thiết và không thể bỏ qua.

Tóm lại, ĐDHTN là hoạt động mà các NHTM có sự tái cơ cấu và ưu tiên các hoạt động liên quan đến mở rộng thu nhập từ nhiều nguồn, hạn chế sự tập trung với hoạt động truyền thống như tín dụng. Mục đích chính là làm tăng thu nhập từ lãi và cả ngoài lãi. Cách thức đo lường đa dạng hóa thu nhập a. Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua thu nhập ngoài lãi Theo Stiroh & Rumble (2006) để xác định mức độ đóng góp của thu nhập ngoài lãi vào tổng thu nhập của ngân hàng, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi được sử dụng với công thức như sau: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi = = 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖+𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Ngoài ra, tỷ lệ cụ thể của từng loại danh mục ngoài lãi cũng có thể được tính toán tương tự như tỷ lệ thu nhập ngoài lãi 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 𝑡ừ 𝑑𝑎𝑛ℎ 𝑚ụ𝑐 𝑖 Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi từ danh mục i = 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Trong đó i là hoạt động tạo ra thu nhập ngoài lãi như hoạt động dịch vụ thanh toán, HĐKD chứng khoán.

Đo lường đa dạng hóa thu nhập thông qua chỉ số Herfindahl – Hishman (HHI): Một chỉ số để đo lường mức độ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng được sẻ dụng bởi Stiroh & Rumble (2006) và Meslier & cộng sự (2014) gọi là chỉ số HHI, được tính như sau: Thu nhập ngoài lãi 2 Thu nhập lãi 2 HHI = ( ) +( ) Thu nhập thuần Thu nhập thuần 13 Giá trị của chỉ số HHI càng cao cho thấy ngân hàng càng tập trung hơn (ít đa dạng hơn), giá trị thấp hơn cho thấy ngân hàng đa dạng hơn. Nói cách khác, giá trị HHI càng cao thì nguồn thu của thu nhập ngoài lãi có mức độ càng thấp, HHI càng thấp thì thu nhập ngoài lãi có mức độ càng cao. Ngoài chỉ số HHI giúp thuận lợi hơn trong việc đánh giá mức đa dạng hóa thu nhập mạnh mẽ thì các nghiên cứu trước còn sử dụng cách tính chỉ số ĐDHTN (DIV) theo nghiên cứu của Stiroh và Rumble (2006), Chiorazzo và cộng sự (2008). Mức độ ĐDHTN được tính thông qua chỉ số HHI như sau: 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑛𝑔𝑜à𝑖 𝑙ã𝑖 2 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑙ã𝑖 2 DIV = 1 – HHI = 1 – [( ) +( ) ] 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 𝑇ℎ𝑢 𝑛ℎậ𝑝 𝑡ℎ𝑢ầ𝑛 Từ đó có nghĩa khi DIV càng gần bằng 0 thì các NHTM chỉ có thu nhập từ 1 nguồn, hoạt động đa dạng hóa thấp.

Ngược lại khi càng cao và tiến đến 0,5 thì thu nhập của các NHTM được hình thành từ nhiều nguồn hơn, NHTM có mức đa dạng hóa thu nhập cao hơn. Rủi ro NHTM 1. Khái niệm Rủi ro là những biến cố không mong đợi, khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc ngân hàng phải bỏ ra thêm một khoản chi phí nào đó để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Rủi ro như là sự khác biệt giữa giá trị thực tế nhận được và giá trị đã kỳ vọng.

Vì vậy trong lĩnh vực doanh nghiệp và ngân hàng, rủi ro là điều không thể tránh khỏi khi kinh doanh. Việc hiểu và quản lý rủi ro một cách hiệu quả có thể tạo ra nguồn thu nhập lớn hơn cho tổ chức. Thường thì, rủi ro đi đôi với cơ hội lợi nhuận. Điều này có nghĩa là, khi mức độ rủi ro tăng, cơ hội thu được lợi nhuận cũng tăng theo.

Mọi HĐKD hướng đến lợi nhuận đều đồng nghĩa với việc phải đối mặt với những rủi ro tương ứng. Tùy theo khẩu vị rủi ro của từng nhà quản trị mà việc đánh giá cơ hội kinh doanh dựa trên mức độ rủi ro có thể chấp nhận có đem lại lợi ích như kỳ vọng hay không. Ngành NHTM cũng không nằm ngoài quy luật đó, rủi ro của NHTM rất đa dạng, theo Rose (1999), tại NHTM có 4 loại rủi ro đặc trưng bao gồm: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá và rủi ro thanh khoản. 14 Hơn nữa, với bản chất của việc kinh doanh liên quan đến tiền bạc, rủi ro luôn là một phần không thể thiếu trong các HĐKD của NHTM.

Rủi ro không chỉ là một yếu tố phức tạp mà còn là một thực tế không thể tránh khỏi, luôn tiềm ẩn trong mọi giao dịch và nghiệp vụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ