Chương 1: Giới thiệu. Chương này nêu lên tình hình chung của vấn đề nghiên cứu từ đó cho thấy được tính cấp thiết của đề tài. Chương này cũng nêu lên các mục tiêu nghiên cứu, giới hạn và phạm vi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
Trong chương 2 nêu lên những khái niệm - định nghĩa được sử dụng trong nghiên cứu, chỉ ra cách tính chỉ số SID và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong nghiên cứu này. Chương này cũng đề cập đến các nghiên cứu trước đó đã được thực hiện có liên quan đến vấn đề nghiên cứu trong luận văn này. Chương 3: Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Chương này nêu tổng quan về điều kiện tự nhiên, khí hậu - thủy văn cũng như tình hình sản xuất nông nghiệp - thủy sản trên địa bàn.
123doc 5 Chương 4: Phân tích ảnh hưởng của đa dạng hóa thu nhập đến thu nhập của nông hộ nghèo tại xã Tân Hùng huyện Tiểu Cần. Chương này nêu lên thực trạng các nguồn lực hiện có của nông hộ trên địa bàn, phân tích cơ cấu thu nhập cũng như chỉ số đa dạng hóa thu nhập của đối tượng này từ đó tiến hành phân tích sự ảnh hưởng của đa dạng hóa đến thu nhập của nhóm đối tượng này. Chương 5: Kết luận và đề xuất giải pháp 123doc 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các khái niệm và công thức liên quan đến vấn đề nghiên cứu 2.1 Các khái niệm về đa dạng hóa Định nghĩa về đa dạng hóa thu nhập đề cập đến sự gia tăng một trong số các nguồn thu nhập hay sự cân bằng giữa các nguồn khác nhau. Một hộ gia đình với hai nguồn thu nhập sẽ đa dạng hơn so với một hộ chỉ với một nguồn thu nhập.
Và khi một hộ gia đình với hai nguồn thu nhập, mà mỗi nguồn đóng góp một nửa vào tổng số, sẽ đa dạng hơn so với một hộ gia đình với hai nguồn mà một trong đó chiếm 90% của tổng số (Ersado, 2003). Một cách giải thích khác về các tiếp cận này thì đa dạng hoá thu nhập cũng có nghĩa là đa dạng hoá ngành nghề sản xuất trong kinh tế nông thôn là sự phát triển đa dạng các cây, con cũng như mở rộng các ngành nghề dựa trên điều kiện của hộ gia đình sao cho phù hợp với nền kinh tế thị trường và đạt hiệu quả cao, dạng hoá sản xuất và doanh thu có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Định nghĩa thứ hai của đa dạng hóa liên quan đến việc chuyển đổi từ sản xuất lương thực tự cung tự cấp sang thương mại nông nghiệp. Ví dụ, Delgado và Siamwalla (1997) cho rằng đa dạng hóa nông nghiệp như một mục tiêu trong sản xuất nông nghiệp nhỏ mà ở châu Phi nên tham khảo, tuy nhiên cũng có thể chuyển một phần của sản lượng nông hộ sang giá trị tiền mặt.
Một thuật ngữ không rõ ràng cho loại hình đa dạng hóa thương mại nông nghiệp, nó không nhất thiết phải bao hàm cả sự gia tăng về số lượng hay cân bằng các nguồn thu nhập. Ví dụ, một nông dân có thể chuyển từ việc sản xuất hạt, củ và các loại rau khác nhau sang chuyên tiêu thụ chỉ một hoặc một vài loại cây trồng. Thứ ba, đa dạng hóa thu nhập có thể được định nghĩa là quá trình chuyển đổi từ sản xuất cây trồng có giá trị thấp sang cây trồng, vật nuôi và các hoạt động phi nông nghiệp có giá trị cao hơn. 123doc 7 Một định nghĩa (khác) về đa dạng hóa là việc xác định nguồn thu nhập.
Đa dạng hóa thu nhập thường được sử dụng để mở rộng tầm quan trọng của thu nhập từ phi mùa vụ hoặc phi nông nghiệp. Thu nhập từ phi nông nghiệp bao gồm cả lao động tiền lương và tự tạo việc làm (Reardon, 1997; Escobal, 2001). Đa dạng hóa từ các hoạt động phi nông nghiệp ở từng hộ gia đình, từng khu vực, từng quốc gia sẽ làm giúp tăng thu nhập. Ở cấp quốc gia, điều này là tương đương với việc chuyển đổi cơ cấu, sẽ có sự suy giảm dài hạn trong tỷ trọng ngành nông nghiệp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và vấn đề việc làm trong nền kinh tế đang phát triển.
Qua số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thì tỷ trọng nông nghiệp trong tổng GDP ở Việt Nam đã giảm dần, từ 24,5% năm 2000 xuống còn 20,58% vào năm 2010. Ngoài ra, đa dạng hóa nông nghiệp có thể được định nghĩa là sự chuyển đổi từ sản xuất cây trồng sang các hoạt động chăn nuôi, đánh bắt thủy sản,… Tương tự như vậy, đa dạng hóa cây trồng có thể đề cập phạm vi hẹp hơn về sự thay đổi trong các thành phần của cây trồng.2 Đo lường đa dạng hóa thu nhập Dưới đây là các công thức đo lường mức độ đa dạng hóa: Hệ số đa dạng hóa phi nông nghiệp (Fecher and Szepesy, 2001) (Non-agricultural Diversification Index – NAI) Trong đó: A: nhóm ngành nghề phi nông nghiệp; i = 1, 2, 3, …, n: tần số hoạt động phi nông nghiệp. Hệ số trên càng cao thể hiện tính đa dạng hóa các hoạt động phi nông nghiệp trong hộ nông thôn càng cao. Chỉ số đa dạng hóa cây trồng (Crop Diversification Index – CDI) (Singh và Dhillon, 1984) Để đo lường mức độ đa dạng hóa cây trồng trong mô hình cây trồng của khu vực, Singh và Dhillon đã phát triển công thức như sau: 123doc 8 Trong đó: X: tỷ lệ phần trăm diện tích gieo trồng cây X trên tổng diện tích vùng trồng cây.
Nếu diện tích toàn vùng tập trung trồng 1 loại cây, tức là chuyên canh thì giá trị chỉ số bằng 0. Nếu diện tích trồng được phân bổ đều cho các loại cây trồng, tức là đa canh thì chỉ số có giá trị là 1. Giá trị càng tiến tới 1 thì đa dạng hóa cây trồng càng cao. Hệ số Simpson (Simpson Index Diversification – SID) (Joshi và Gulati, 2003) Hệ số đa dạng hóa Simpson là một biện pháp đo lường độ đa dạng thường được sử dụng trong sinh thái học để định lượng mức độ đa dạng sinh học của môi trường sống, sự phong phú của mỗi loài.
Tuy nhiên, các nhà kinh tế vẫn áp dụng vào nghiên cứu để đo lường mức độ đa dạng hóa các hoạt động sản xuất. Trong đó: Pi = tỷ trọng thu nhập của hoạt động thứ i trên tổng thu nhập (1≥ SID ≥ 0) Nếu chuyên môn hóa 1 hoạt động thì SID = 0. SID càng cao thì mức độ đa dạng hóa thu nhập càng cao. Tần số đa dạng hóa (Tx) 123doc 9 Trong đó: Tx: tần số xuất hiện ngành nghề của nông hộ; Sn: số nhóm ngành nghề hiện đang được tiến hành bởi nông hộ; n: tổng số nhóm ngành nghề phổ biến trong vùng.3 Các vấn đề liên quan đến thu nhập Theo Tổng cục thống kê, thu nhập của nông hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi trừ đi chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm.
Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng. Thu nhập của hộ bao gồm: - Thu nhập từ tiền công, tiền lương: là toàn bộ số tiền công, tiền lương và giá trị hiện vật quy thành tiền mà người lao động nhận được từ hoạt động làm công ăn lương trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. - Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp: là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi trừ thuế và chi phí sản xuất mà hộ gia đình nhận được từ hoạt động nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp và săn bắt thuần dưỡng chim thú trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. - Thu nhập từ sản xuất thủy sản: là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ thuế và chi phí sản xuất mà hộ gia đình nhận được từ hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và dịch vụ thủy sản trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm.
- Thu nhập từ hoạt động kinh doanh dịch vụ: là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ thuế hộ gia đình nhận được từ hoạt động kinh doanh dịch vụ hộ tự làm trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. - Thu nhập từ nguồn thu khác tính vào thu nhập: là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền mà hộ gia đình nhận được từ thu khác được tính vào thu nhập như: cho, tặng, lãi tiết kiệm,… trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm. - Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp: là thu nhập từ sản xuất công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ của hộ, toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật 123doc 10 quy thành tiền sau khi đã trừ thuế và chi phí sản xuất mà hộ gia đình nhận được từ các hoạt động trên trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm.4 Các vấn đề liên quan đến nông hộ Khu vực nông thôn Nông thôn gồm những vùng dân cư sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp, dựa vào tiềm năng của môi trường tự nhiên để sinh sống và tạo ra của cải mới trong môi trường tự nhiên đó. Kinh tế nông thôn: nông nghiệp là cơ sở kinh tế chính của xã hội nông thôn, sản xuất nhỏ mang tính tự cung tự cấp và các hình thức như hợp tác xã, nông trại.
Hiện nay, kinh tế phát triển, các tổ hợp công nghiệp nhỏ xuất hiện, các xưởng công nghiệp nhỏ và tiểu chủ, tiểu thương đã hình thành và đang phát triển. Kinh tế nông thôn đang có xu hướng phát triển theo kinh tế hộ gia đình. Khái niệm hộ nông thôn Có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ nông thôn: Nhà khoa học Trai-a-nốp (1992) cho rằng: “Hộ nông thôn là đơn vị sản xuất rất ổn định” và ông coi “Hộ nông thôn là đơn vị tuyệt đối để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp”. Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển.
Ở nước ta có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông thôn. Nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: “Hộ nông thôn là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”.