CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 Lý do thực hiện đề tài Nhiều bài báo hiện nay cho rằng nữ giới là chất xúc tác giúp nền kinh tế của ASEAN nói riêng và nền kinh tế của thế giới nói chung phát triển mạnh mẽ và ngày càng bền vững hơn. Sự so sánh về tỷ suất sinh lợi trên vốn bình quân của những doanh nghiệp nằm trong danh sách 500 doanh nghiệp lớn nhất của Hoa Kỳ theo doanh thu – Fortune 500 chỉ ra rằng những doanh nghiệp có tỷ lệ nữ giới cao nhất trong danh sách này cao hơn 53% so với những doanh nghiệp có tỷ lệ nữ giới thấp nhất (theo nghiên cứu của Công ty Catalyst). Nghiên cứu của McKinsey về nữ giới trong môi trường làm việc (2018) với mẫu hơn 1000 doanh nghiệp trong 12 nền kinh tế còn cho thấy rằng khả năng sinh lời của doanh nghiệp càng cao khi những doanh nghiệp càng có sự đa dạng giới tính trong doanh nghiệp cao. Những bài báo khác còn cho rằng doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả và bền vững hơn khi doanh nghiệp có nữ thành viên trong HĐQT cũng như ban điều hành doanh nghiệp.
Ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới còn đưa ra những hạn ngạch giới tính trong HĐQT như Na Uy, Vương quốc Anh, Malaysia hay gần với Việt Nam hơn là Singapore và Hồng Kông. Vậy tại sao những bài báo trên lại đề cao vai trò của nữ giới trong HĐQT cũng như trong lĩnh vực kinh doanh như vậy? Và tại sao nhiều quốc gia lại phải áp đặt hạn ngạch giới tính trong HĐQT đối với những doanh nghiệp trong chính quốc gia của họ? Nữ giới chính là mấu chốt chính trả lời cho những câu hỏi trên, vậy nữ giới thực sự quan trọng ra sao và ảnh hưởng như thế nào đến doanh nghiệp, câu hỏi này đã được rất nhiều nhà nghiên cứu đưa vào làm chủ đề chính cho đề tài của mình. Đặc biệt là những vấn đề về nữ giới trong HĐQT - bộ phận nòng cốt ảnh hưởng trực tiếp đến từng bước tiến của doanh nghiệp, đưa ra tầm nhìn cho doanh nghiệp phát triển vững chắc. Chính bộ phận này đã thực hiện những nhiệm vụ tất yếu của HĐQT liên quan đến việc quản lý việc điều hành, giám sát, kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp cũng như đưa ra những quyết định quan trọng trong nhiều hoàn cảnh.
Trong bối cảnh hiện tại, HĐQT còn phải có kiến thức về hoạt động kinh doanh cốt lõi của doanh 123doc 2 nghiệp góp phần thúc đẩy quá trình làm việc và có chiến lược cụ thể cho hoạt động này. Câu hỏi lại được đặt ra là: nữ giới có thật sự là một thành viên đóng vai trò quan trọng trong HĐQT? Yếu tố quan trọng không kém, ảnh hưởng đến giá trị của doanh nghiệp cũng như cách nhìn nhận của nhà đầu tư về doanh nghiệp là mức chi trả cổ tức. Mức chi trả cổ tức được xem là lợi tức hay phần thưởng cho cổ đông khi tin tưởng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tạo niềm tin cho cổ đông và nhà đầu tư về việc doanh nghiệp đang làm ăn thuận lợi và lợi nhuận cũng được giữ lại cho việc đầu tư sinh lời thêm của doanh nghiệp. Từ vai trò quan trọng của nữ giới đã được những bài báo và nghiên cứu trước đề cập, nghiên cứu cũng muốn tìm hiều về ảnh hưởng của sự đa dạng giới tính trong HĐQT lên mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp.
Vai trò của nữ giới trong HĐQT ngày qua ngày càng được quan tâm hơn. Theo nội dung của chiến lược quốc gia về bình đẳng giới tính, nam nữ đều có quyền và bình đẳng về các cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên nhiều những lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội. Nội dung của chiến lược còn nhấn mạnh về việc nâng cao sự đa dạng giới tính tham gia vào những bộ phận nòng cốt với vai trò lãnh đạo và quản lý nhằm dần giảm đi khoảng cách về giới giữa nam nữ với nhau. Vậy vai trò của nữ giới có thực sự quan trọng trong HĐQT hay không và liệu sự đa dạng giới tính trong HĐQT có ảnh hưởng đến mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp hay không? Việt Nam là quốc gia đã từng trong chế độ phong kiến và có sự phân biệt đối xử giữa nam nữ thì sự đa dạng giới tính càng được quan tâm hơn.
Hiện tại, có những nghiên cứu tại Việt Nam về đa dạng giới tính trong HĐQT như ảnh hưởng sự đa dạng giới tính trong HĐQT tới rủi ro các doanh nghiệp Việt Nam; đặc điểm HĐQT và hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam; Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu riêng về vấn đề ảnh hưởng lên mức chi trả cổ tức. Vậy nên, nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về chủ đề: Sự đa dạng giới tính trong Hội đồng quản trị và mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp Việt Nam.2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu được đưa ra nhằm trả lời hai câu hỏi sau: 123doc 3 Thứ nhất, doanh nghiệp có nữ thành viên trong HĐQT thì mức chi trả cổ tức có lớn hơn không? Thứ hai, so với thành viên nam, nữ thành viên trong HĐQT có sử dụng mức chi trả cổ tức như thiết bị giám sát doanh nghiệp nhiều hơn không? Thực hiện bài nghiên cứu với mong muốn cung cấp cái nhìn cụ thể và sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa sự đa dạng giới tính trong HĐQT và mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp Việt Nam. Từ đó, phần nào đóng góp vào các bằng chứng thực nghiệm nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam cũng như trên thế giới.3 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu tập trung tìm hiểu mối tương quan giữa sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và mức chi trả cổ tức trong doanh nghiệp; theo đó nghiên cứu còn tìm hiểu rằng người đóng vai trò giám sát doanh nghiệp nào sẽ tốt hơn giữa thành viên nữ và thành viên nam trong HĐQT. Ngoài ra, ảnh hưởng của quản trị doanh nghiệp lên mối quan hệ giữa nữ thành viên trong HĐQT và mức chi trả cổ tức trong doanh nghiệp còn được nghiên cứu quan tâm đến.
Nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ này dựa trên mẫu dữ liệu 182 doanh nghiệp từ năm 2013 đến năm 2018. Nghiên cứu sử dụng những phương pháp sau để tìm ra mối quan hệ giữa nữ thành viên trong HĐQT và mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp: - Tìm hiểu về những lý thuyết liên quan đến sự đa dạng giới tính trong HĐQT và mối quan hệ giữa sự đa dạng này lên mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp. Với dữ liệu đã được thu thập, nghiên cứu sử dụng hồi quy OLS nhằm tìm ra mối tương quan giữa nữ thành viên trong HĐQT và mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp. - Tìm hiểu tác động của những yếu tố quản trị doanh nghiệp lên mối quan hệ giữa sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp.4 Kết quả nghiên cứu Kết quả bài nghiên cứu đã mang lại hai kết luận quan trọng.
Đầu tiên, nghiên cứu đã tìm ra bằng chứng ủng hộ tác động tích cực của sự đa dạng về giới tính trong HĐQT lên việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp Việt Nam. Những doanh nghiệp có đa dạng giới tính trong HĐQT cao hơn sẽ có mức chi trả cổ tức cao hơn. Thứ hai, bài nghiên cứu cũng đã góp phần vào một trong ít những nghiên cứu về mối quan hệ giữa nữ thành viên trong HĐQT và cường độ giám sát doanh nghiệp như nghiên cứu của Adams và Ferreira (2009); Gul và cộng sự (2011), cho thấy rằng những HĐQT có thành viên nữ hiện diện sẽ được giám sát một cách chặt chẽ hơn những HĐQT chỉ có thành viên nam. Điều này được phản ánh qua việc HĐQT sử dụng khoản chi trả cổ tức cao như thiết bị giám sát trong những doanh nghiệp có quản trị yếu kém.5 Kết cấu đề tài Ngoài phần giới thiệu, kết cấu của bài nghiên cứu còn có những phần như sau: Chương 2: Tổng quan về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương này tập trung nói về những cơ sở lý thuyết, những khái niệm có liên quan trong nghiên cứu giúp làm rõ hơn mục tiêu nghiên cứu; những kết quả của nghiên cứu trước đây có liên quan đóng vai trò là cơ sở cũng như góp phần đưa ra giả thiết cho bài nghiên cứu.
Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Sau khi đã nói về lý thuyết cũng như những nghiên cứu trước đây, chương này sẽ mô tả những dữ liệu được sử dụng trong bài, những đề xuất về phương pháp nghiên cứu và đưa ra mô hình nghiên cứu nhằm xác định kết quả của mục tiêu nghiên cứu đề ra. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu cũng như những bàn luận về kết quả sẽ được trình bày trong chương 4. Chương 5: Kết luận Sau khi đã đưa ra kết quả, chương 5 sẽ kết luận lại kết quả của bài nghiên cứu và đưa ra những hạn chế của đề tài. 123doc 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết Bài nghiên cứu này chủ yếu xoay quanh tìm hiểu và phân tích ảnh hưởng của sự đa dạng về giới tính trong HĐQT lên mức chi trả cổ tức của doanh nghiệp Việt Nam nên sẽ có sự xuất hiện nhiều thuật ngữ chuyên ngành tài chính.
Những cơ sở lý thuyết cũng những khái niệm liên quan đến những vấn đề nghiên cứu cũng như cơ sở lý thuyết thực nghiệm tại Việt Nam được trình bày trong chương này.1 Sự đa dạng giới tính trong HĐQT Ngày qua ngày, thời đại càng đổi mới, Việt Nam cũng vậy, cũng đang chuyển mình dần từ đất nước trọng nam khinh nữ thành đất nước mà phụ nữ được lên ngôi hơn trong lĩnh vực kinh doanh nói chung và trong lĩnh vực kiểm soát doanh nghiệp nói riêng. Nghiên cứu của Zelechowski và Bilimoria (2004) về sự đa dạng giới tính trong HĐQT cho rằng nam thành viên trong HĐQT thường có kỹ năng quản lý không tốt bằng nữ thành viên khi xử lý những vấn đề có liên quan đến giao tiếp, truyền thông, nguồn nhân lực và tiếp thị. Cũng như trong nghiên cứu của Srinidhi và cộng sự (2011); nghiên cứu của Thiruvadi và Huang (2011) cho rằng số lượng thành viên nữ trong HĐQT càng nhiều thì chất lượng báo cáo sẽ càng cao.