Chương 1. Tình hình chiến trường tỉnh Quảng Ngãi trước năm 1968. Diễn biến cuộc tiến công và nổi dậy năm 1968 ở tỉnh Quảng Ngãi. Đặc điểm, bài học kinh nghiệm của cuộc tiến công và nổi dậy năm 1968 ở tỉnh Quảng Ngãi.
TÌNH HÌNH CHIẾN TRƯỜNG TỈNH QUẢNG NGÃI TRƯỚC NĂM 1968 1. Khái quát về tỉnh Quảng Ngãi 1. Điều kiện địa lý - tự nhiên Quảng Ngãi là một tỉnh nằm ở ven biển miền Trung, khoảng giữa chiều dài của đất nước. Quảng ngãi nằm ở tọa độ 14’32’40’’ đến 15’25’00” vĩ bắc và từ 108’06’00” đến 109’04’35” kinh đông, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp tỉnh Bình Định, phía Tây dựa lưng vào dãy núi Trường Sơn hùng vĩ giáp các tỉnh Kom Tum, Gia Lai, có đường bộ nối liền sang các nước Đông Nam Á, phía Đông giáp Biển Đông.
Đây được coi là một trong những vị trí quan trọng có ý nghĩa chiến lược không chỉ về quân sự mà cả về mặt kinh tế, chính trị và văn hóa. Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 5.135,20 km, chiều dài (theo hướng Bắc - Nam) khoảng 100 km, chiều rộng theo hướng (Đông - Tây) khoảng hơn 50 km. Bờ biển Quảng Ngãi dài 130 km, từ hải giới giáp Quảng Nam đến hải giới giáp Bình Định. Địa hình Quảng Ngãi chia làm 4 vùng: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển và hải đảo.
Có đặc điểm chung là núi lấn sát biển. Trong đó, miền núi chiếm ¾ diện tích tự nhiên của toàn tỉnh, đồng bằng nhỏ hẹp chiếm ¼ diện tích. Rừng có nhiều loại gỗ quý như: Lim, giỗi, trắc, kiền kiền. nhiều tre, nứa, đót, lá nón.
đó là những nguyên liệu cung cấp cho phát triển tiểu thủ công nghiệp và mỹ nghệ. Ngoài ra, rừng ở Quảng Ngãi còn có nhiều loại cây thuốc quý như: quế, ngũ gia bì, sâm, hà thủ ô. và là nơi sinh sống của hàng trăm loài chim, thú thuộc hệ thống động vật và thực vật khác nhau. Vùng rừng núi tiếp giáp phía Đông Trường Sơn, bao gồm chủ yếu ở huyện miền núi Trà Bồng, Tây Trà, Sơn Hà, Sơn Tây, Minh Long, Ba Tơ.
Vùng rừng núi chiếm 2/3 diện tích đất đai trong tỉnh. Là một địa bàn chiến lược quan trọng về quân 11 sự, là căn cứ địa cách mạng gắn liền với lịch sử chống áp bức giai cấp và chống ngoại xâm. Vùng đồng bằng Quảng Ngãi nhỏ hẹp, diện tích khoảng 150.672 ha được bồi đắp phù sa thường xuyên hằng năm bởi 4 hệ thống sông chính: sông Trà Khúc, sông Trà Bồng, sông Vệ và sông Trà Câu. Đồng bằng Quảng Ngãi bị nhiều sông ngòi và đồi núi thấp chạy ra sát biển chia cắt.
Cho nên, đất đai màu mỡ, thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp tập trung chủ yếu ở Mộ Đức, Tư Nghĩa, Sơn Tịnh,… Đất ở đây thích hợp với các loại cây thương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, đặc biệt là cây mía, một loại cây công nghiệp truyền thống nổi tiếng ở Quảng Ngãi. Vùng đồng bằng là nơi chứa nước ngầm lớn phục vụ cho nhu cầu đời sống, sản xuất của phần lớn dân cư trong tỉnh; đồng thời, cũng là nơi diễn ra các cuộc đấu tranh yêu nước và cách mạng sôi nổi qua từng thời kì cách mạng. Vùng biển Quảng Ngãi dài khoảng 130 km, chạy dọc ven biển là vùng bãi cát, rất thích hợp cho trồng cây phi lao. Ngoài ra, còn có nhiều loại hải sản như cá thu, cá trích, cá nục, cá cơm, mực, tôm, cua, hải sâm, rau câu,… Vùng ven bờ Quảng Ngãi thuận lợi cho sản xuất muối, nổi tiếng là cánh đồng muối Sa Huỳnh (Đức Phổ).
Muối Quảng Ngãi có chất lượng cao hằng năm sản xuất khoảng 1000 tấn, đủ đáp ứng yêu cầu về tiêu dùng cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh Tây Nguyên. Dọc bờ biển Quảng Ngãi có 6 cửa biển thuận lợi cho việc tàu thuyền đi lại và cập bến. Đó là các cửa như: Sa Kỳ, Sa Cần, Cổ Lũy, Mỹ Á, Cửa Lở và Sa Huỳnh. Từ xa xưa tàu thuyền trong và ngoài nước đã cập bến nơi này.
Vì vậy, Quảng Ngãi có thế mạnh rất lớn trong việc phát triển kinh tế biển. Ngoài ra, Quảng Ngãi có huyện đảo Lý Sơn cũng đang phát triển, dân cư ở đây sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản, trồng hành, tỏi và dưa.Lý Sơn là huyện đảo nhỏ nhưng có vị trí chiến lược quan trọng cả về an ninh 12 quốc phòng và kinh tế. Trong các cuộc xâm lược nước ta trước đây, địch thường đánh chiếm các huyện đảo để làm điểm tựa để khống chế ven biển, rồi từ đó tấn công vào đất liền. Khoáng sản Quảng Ngãi phong phú, với các loại khoáng sản kim loại, phi kim loại, nhiều mỏ.
Quảng Ngãi, có nhiều suối nước khoáng và suối nước nóng. Tiêu biểu trong số này là các nguồn nước khoáng Thạch Bích (Trà Bồng), Hà Thanh, Vịn Cao (Sơn Hà), Thạch Trụ (Mộ Đức). Đây là nguồn tài nguyên rất quý giá. Về giao thông vận tải Quảng Ngãi ngoài đường sắt, đường thủy, một số tuyến đường sông, Quốc lộ 1A xuyên qua tỉnh từ Bắc vào Nam.
Trước năm 1945 còn có tỉnh lộ từ thị trấn Châu Ổ (Bình Sơn) lên Trà Bồng, đường 5B nối quốc lộ 1A từ xã Tịnh Ấn (nay là thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh) lên Sơn Hà, đường nối từ phía Bắc cầu Trà Khúc xuống Sa Kỳ, đường từ thị Xã đi Cổ Lũy, Thị xã đi Nghĩa Hành, Minh Long và đường 5A từ ngã ba Thạch Trụ đi Ba Tơ, Giá Vụt, đến Ba Ngạc, đường 5A chia thành 2 nhánh: nhánh 1 đi Kom Tum, một nhánh giáp đường 5B đi Sơn Kỳ, Sơn Thủy (huyện Sơn Hà). Hệ thống giao thông rất thuận lợi cho việc vận chuyển, lưu thông, giao lưu, buôn bán, trao đổi giữa Quảng Ngãi với các tỉnh lân cận, giữa Quảng Ngãi với miền Bắc và miền Nam cũng như giữa miền xuôi và miền ngược. Đặc điểm kinh tế - xã hội Dân cư Quảng Ngãi phần lớn di cư từ miền Bắc vào sinh cơ, lập nghiệp,“cũng như các tỉnh miền Nam Trung bộ, phần lớn cư dân Quảng Ngãi có nguồn gốc ở miền Bắc Việt Nam” [54, tr. Họ là con cháu của những người đã từng tham gia nhiều cuộc kháng chiến chống xâm lược và bảo vệ Tổ quốc, giải phóng dân tộc, đã từng lao động cần cù chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, xây dựng quê hương, đất nước.
Khi đến vùng đất mới, họ phải sống trong hoàn cảnh nhiều khó khăn, gian khổ, rời xa “nơi chôn nhau, cắt rốn”. 13 Mặc dù vậy, tình cảm quê hương đất nước, ý thức bảo vệ dân tộc đã thấm đẫm trong máu thịt và ngày càng được hun đúc sâu đậm. Dân cư Quảng Ngãi bao gồm các dân tộc: Kinh, H’re, Cor, Ca Dong. Khối cộng đồng dân cư Quảng Ngãi phát triển theo tiến trình lịch sử, cùng đoàn kết, chung sức, chung lòng trong công cuộc chống phong kiến - đế quốc, dựng xây quê hương.
Từ xưa đến nay, nền kinh tế chủ yếu của tỉnh chủ yếu là nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt). Ngoài nghề nông, ở Quảng Ngãi nghề thủ công cũng khá phát triển, đặc biệt là nghề nấu đường, chế biến nhiều loại đường ngon được ưa chuộng trên thị trường không chỉ trong và ngoài nước như đường phèn, đường phổi và đây cũng chính là đặc sản của quê hương Quảng Ngãi. Mạch nha, đường cát, kẹo gương Quê hương Quảng Ngãi, ai thương thì về. Bên cạnh đó thì các nghề thủ công khác như: nghề khai quặng, luyện sắt, rèn công cụ, làm đồ gốm nổi tiếng như ở Châu Ổ (Bình Sơn).
Nghề đánh cá làm mắm, làm muối khá phát triển ở Sa Huỳnh (Đức Phổ), An Kỳ, An Vĩnh (Sơn Tịnh). Nghề kéo sợi, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, đan lát cũng phổ biến ở nhiều nơi trong tỉnh. Quảng Ngãi có một nền văn hóa đa dạng phong phú: ca dao, tục ngữ, hò, vè. thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, sự đoàn kết đồng lòng của người dân Quảng Ngãi, ngoài ra còn có ca kịch, tuồng.
mang đậm chất địa phương, góp phần to lớn vào sự phát triển của nền văn hóa dân tộc. Nhìn chung, với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội như trên cho thấy Quảng Ngãi có một vị trí chiến lược hết sức quan trọng của miền Trung cả về kinh tế lẫn quốc phòng và an ninh. Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng Trải qua quá trình đấu tranh chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, người dân Quảng Ngãi đã được tôi luyện vượt qua khó khăn, gian khổ, ngày càng dày 14 dặn kinh nghiệm trong công cuộc chế ngự thiên nhiên xây dựng cuộc sống. Họ có những phẩm chất chung, điển hình của người Việt Nam, đó là tinh thần đoàn kết yêu thương, giúp đỡ nhau, chất phác, đôn hậu, cần cù lao động, có tinh thần tự lực tự cường, yêu nước, đấu tranh kiên cường bất khuất chống ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc,.
Vì vậy, nhiều người con của quê hương Quảng Ngãi đã tham gia chiến đấu ngoan cường và anh dũng hy sinh trong những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập của đất nước. Trong những năm cuối thế kỷ XVII đến thập niên đầu thế kỷ XIX, nhân dân Quảng Ngãi trong quá trình khai phá, xây dựng vùng đất mới đã không ngừng đứng lên đấu tranh chống lại sự thống trị hà khắc của tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn. Thế kỷ XVII, nhân dân Quảng Ngãi đã tham gia phong trào đấu tranh chống áp bức do ông Linh đứng đầu, đến cuối thế kỷ XVIII tham gia cuộc khởi nghĩa do Chàng Lía khởi xướng ở Bình Định. Cùng thời gian này, khi chế độ phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài lâm vào khủng hoảng, đời sống của nhân dân cực khổ, phong trào nông dân bùng nổ, liên tục và kéo dài chống lại chế độ phong kiến thối nát.
Nhân dân Quảng Ngãi đã tham gia cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ ở Bình Định lãnh đạo, góp sức người, sức của cùng cả nước từng bước giành thắng lợi, lật đổ tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh - Nguyễn, non sông nước Việt sau một thời gian bị chia cắt được thu về một mối. Sau đó phong trào Tây Sơn liên tiếp đánh thắng Quân Xiêm, Thanh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Giữa thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Quảng Ngãi đã tham gia đấu tranh bền bỉ chống lại kẻ thù xâm lược. Tháng 7/1885 vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương, cùng với nhân dân cả nước hưởng ứng chiếu Cần Vương, tại Quảng Ngãi đã có nhiều văn thân, sĩ phu yêu nước đã lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa, 15 tham gia đấu tranh bền bỉ chống quân thù.