Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN MỨC ĐỘ 3, 4 TẠI UBND CẤP QUẬN 1. Những vấn đề chung về cung ứng DVCTT mức độ 3, 4 của UBND cấp quận 1. Khái niệm về dịch vụ công Trên thế giới, có nhiều quan điểm khác nhau về DVC, có thể kể đến một số quan niệm tiêu biểu về DVC như: Từ điển Petit Larousse (Pháp, 1995) định nghĩa: "DVC là hoạt động vì lợi ích chung, do một CQNN hoặc tư nhân đảm nhiệm" [34]. Định nghĩa này đưa ra cách hiểu chung về DVC, tuy nhiên tính chất “công” vẫn chưa được thể hiện rõ ràng vàkhông có sự phân biệt giữa vai trò của Nhà nước và tư nhân trong hoạt động cung ứng DVC.
Từ điển Oxford (Anh, 2000) định nghĩa DVC là: “1. Các dịch vụ như giao thông hoặc chăm sóc sức khỏe do Nhà nước hoặc tổ chức chính thức cung cấp cho tất cả mọi người dân trong một xã hội cụ thể. Việc làm gì đó được thực hiện nhằm giúp đỡ mọi người hơn là kiếm lợi nhuận. Chính phủ và cơ quan chính phủ.”[35] Trong cách tiếp cận này, khái niệm DVC và công vụ tương đối tương đồng, không có sự phân biệt cụ thể và các quan niệm liên quan đến DVC khá rộng.
Có thể dùng nhiều góc độ khác nhau để tiếp cận khái niệm DVC nhưng mang tính bao quát và được chấp nhận rộng rãi hơn trong cộng đồng khoa học là tiếp cận thông qua bản chất, chức năng và vai trò của Nhà nước và tiếp cận về hàng hóa công cộng và lựa chọn công cộng. Tại Việt Nam, tại Hội nghị Trung ương 7 khóa VIII (năm 1999), lần đầu tiên khái niệm DVC được đề cập tới thì đến Đại hội Đảng lần thứ IX (năm 2001) khái niệm này chính thức được đưa vào nội dung văn kiện. Và đến Đại hội Đảng X, khái niệm DVC được thống nhất sử dụng trong hệ thống quản lý hành chính Nhà nước và được thông qua bằng Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001. Trong cuốn sách “Đổi mới cung ứng DVC ở Việt Nam” (NXB.
Thống kê, 9 Hà Nội, 2006), TS. Đinh Văn Ân – Hoàng Thu Hòa đưa ra định nghĩa về DVC: “DVC là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện”. [01] Theo đó, các nhà khoa học đã nhấn mạnh vai trò chủ thể của Nhà nước trong hoạt động cung cấp DVC cho cộng đồng đồng thời cho rằng Nhà nước Việt Nam cần tập trung nhiều hơn nữa vào chức năng phục vụ xã hội của mình Từ các khái niệm nêu trên, tác giả hiểu DVC lànhững hoạt động, dịch vụ phục vụ các lợi ích chung, hợp pháp của người dân, cộng đồng nhằm đảm bảo công bằng xã hội. Hoạt động cung cấp DVC hiện nay không còn là độc quyền của Nhà nước màtùy vào điều kiện xã hội, Nhà nước có thể ủy quyền cho đơn vị ngoài Nhà nước thực hiện, dưới sự giám sát của Nhà nước đảm bảo hoạt động không vìlợi nhuận mà hướng tới mục tiêu chung của Nhà nước đó là xây dựng xã hội phát triển ổn định, bình đẳng.
Các loại hình dịch vụ công Việc phân loại các loại hình DVC giúp cho Nhà nước xác định được tầm quan trọng, tính cấp bách để ưu tiên phân bổ các nguồn lực đầu tư cho các DVC quan trọng để đảm bảo cung ứng một cách công bằng, kịp thời và đầy đủ cho xã hội. Có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại DVC, một số tiêu chí như sau: Dựa vào chủ thể cung ứng, có thể chia DVC có thể chia ra làm 3 loại như sau: - DVC do CQNN trực tiếp cung cấp: Đây là những DVC mang tính đặc thù, thuộc lĩnh vực QLNN, chỉ có thể do các CQNN trực tiếp thực hiện (cụ thể ở đây là đội ngũ cán bộ công chức được Nhà nước giao quyền) và không thể ủy quyền cho các tổ chức khác thực hiện. Có thể coi sản phẩm của các DVC này là sản phẩm đặc biệt, sản phẩm độc quyền của Nhà nước, gắn liền với chính trị xã hội, không để giao cho một tổ chức nào cung ứng. Các DVC này có thể liên quan đến sự đảm bảo xã hội phát triển ổn định và bền vững (giới thiệu việc làm, 10 bảo hiểm thất nghiệp, hưu trí.); đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội (tòa án, nhà tù, công an, phòng cháy chữa cháy, phòng chống dịch bệnh.); bảo vệ an toàn lãnh thổ, độc lập quốc gia (quân đội, quốc phòng.
Ngoài ra, Nhà nước sẽ trực tiếp cung cấp một số DVC do các chủ thể khác không thể cung ứng vìlýdo không thể đảm bảo nguồn lực thực hiện, vìlýdo lợi nhuận, hoàn vốn (y tế cộng đồng, bảo trợ xã hội, giáo dục đào tạo. - DVC do các tổ chức phi chính phủ và tổ chức tư nhân cung cấp: Đây là các dịch vụ do Nhà nước cung cấp nhưng Nhà nước không trực tiếp thực hiện mà ủy nhiệm cho đơn vị khác cung cấp (có thể là các tổ chức phi chính phủ hoặc các đơn vị tư nhân) vàchịu sự đôn đốc, quản lý, giám sát của Nhànước. Các dịch vụ này có thể là các công trình công cộng, các dịch vụ giáo dục. - DVC do tổ chức Nhà nước, tổ chức phi chính phủ và tổ chức tư nhân cùng phối hợp thực hiện cung cấp: Loại hình dịch vụ này có thể trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học – công nghệ, bảo vệ môi trường, y tế, giáo dục – đào tạo.
Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia DVC thành các loại như sau: - Dịch vụ hành chính công: là hoạt động giải quyết các công việc cụ thể liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân được thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính - pháp lý của Nhà nước. Dịch vụ hành chính công do các CQHCNN thực hiện để phục vụ quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức và công dân. Đó là những lĩnh vực liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do CQNN (hoặc tổ chức được ủy quyền của Nhà nước) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong lĩnh vực mà CQNN đó quản lý. - Dịch vụ công cộng: là dịch vụ phục vụ các nhu cầu chung, tối cần thiết của cả cộng đồng và mỗi công dân.
Do tính chất phục vụ các nhu cầu chung của cả cộng đồng, dịch vụ này còn được gọi là dịch vụ công cộng. Các dịch vụ công cộng lại có thể phân chia thành dịch vụ xã hội và dịch vụ kinh tế - kỹ thuật. + Dịch vụ xã hội hay còn gọi là dịch vụ sự nghiệp. Đây là những dịch vụ có 11 liên quan đến quyền lợi và nhu cầu của con người như y tế, giáo dục, văn hóa.
+ Dịch vụ kinh tế - kỹ thuật hay còn gọi là dịch vụ công ích, chủ yếu do các doanh nghiệp công ích cung ứng. Đây là dịch vụ gắn với nhu cầu vật chất phục vụ xã hội như điện, nước, gas, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, vệ sinh môi trường, thủy lợi, xây dựng đường xá, cầu cống. Ở Việt Nam, các dịch vụ này do các doanh nghiệp công ích chung và còn gọi là dịch vụ công ích.1: So sánh các loại hình DVC (Nguồn: Tác giả tổng hợp) Dịch vụ công cộng Tiêu chí Dịch vụ hành Dịch vụ so sánh Dịch vụ công ích chính công sự nghiệp công Phục vụ các nhu cầu Gắn liền với chức Phục vụ nhu cầu phát vật chất cho sinh hoạt năng QLNN và Bản chất triển về thể lực và trí lực và cơ sở hạ tầng kỹ hoạt động thực thi của người dân thuật cơ bản pháp luật Phần lớn do đơn vị sự Chủ yếu do các doanh nghiệp công lập đảm nghiệp Nhà nước đảm Cơ quan nhiệm cung ứng bên nhận bên cạnh đó có Thường là cung ứng cạnh đó có các đơn vị một số doanh nghiệp CQHCNN sự nghiệp ngoài công tư nhân tham gia cung lập tham gia cung ứng ứng Giấy tờ có giá trị Sản Các dịch vụ đảm bảo Các dịch vụ cơ bản pháp lý nhân phẩm của nhu cầu phát triển về thể nhất phục vụ cuộc danh quyền lực dịch vụ chất và tinh thần sống của cộng đồng Nhà nước Ngoài ra, dựa vào mức trả phí từ người sử dụng để có thể chia DVC thành các loại như sau: - DVC không thu tiền trực tiếp từ người sử dụng: làloại dịch vụ không thu tiền trực tiếp từ người sử dụng mà duy trì hoạt động nhờ vào sử dụng từ nguồn ngân sách Nhà nước (thông qua khoản tiền thuế của người dân). Cụ thể bao gồm các công trình công cộng (công viên, đường sá, giao thông.) - DVC chi trả một phần: làloại dịch vụ khi cung cấp sẽ thu tiền trực tiếp 12 của người sử dụng chỉ một phần, phần còn lại sẽ được sử dụng từ nguồn ngân sách Nhà nước.
Cụ thể là việc thực hiện các TTHC tại các Trung tâm hành chính công, UBND các cấp. - DVC chi trả toàn bộ: là dịch vụ khi cung cấp sẽ thu lại toàn bộ chi phí đã bỏ ra. Cụ thể là điện, nước, vận tải công cộng. Khái niệm DVCTT mức độ 3, 4 Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định 42/2022/NĐ-CP ngày 24/06/2022 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT của CQNN trên môi trường mạng, định nghĩa DVCTT như sau: “Dịch vụ công trực tuyến của CQNN là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của CQNN được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng”.
[14] Theo Khoản 4, Điều 3 Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/06/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của CQNN, DVCTT gồm 4 mức độ: - DVCTT mức độ 1: là dịch vụ mà người sử dụng cần đến trực tiếp CQHCNN để được cung cấp đầy đủ các thông tin về TTHC, các biểu mẫu thực hiện và các văn bản có liên quan quy định về TTHC đó. - DVCTT mức độ 2: làdịch vụ mà người sử dụng có thể thông qua mạng internet để tải các biểu mẫu, sau đó thực hiện khai báo để hoàn thiện hồ sơ. Sau khi hồ sơ hoàn thiện, người sử dụng đến trực tiếp CQHCNN nộp hồ sơ hoặc có thể gửi qua đường bưu điện đến CQHCNN.