mở đầu cho cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Điều này buộc các nước cần phải nhìn lại và điều chỉnh chính sách kinh tế đang thực thi trong thời gian qua. Và kết quả là, một số chuyên gia kinh tế gọi là sự tăng trưởng tín dụng quá mức, sự bùng nổ tín dụng đã tạo ra tác động tiêu cực đối với nền kinh tế, khiến nền kinh tế đi vào suy thoái. Tuy nhiên, lại có một số nghiên cứu khác nhau khi nói về vấn đề này: - Một nghiên cứu gần đây của Rousseau và Wachtel (2011) cho thấy việc thực hiện các chính sách tiền tệ nới lỏng, đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế không những không tạo ra tăng trưởng mà còn gây ra khủng hoảng kinh tế vào 2 thập kỷ trước (khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997).
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 - Trong khi đó, một số nghiên cứu và lý thuyết khác cho thấy nhiều bằng chứng về chức năng chủ yếu và trọng tâm của các định chế tài chính trung gian là thúc đẩy và phát triển nền kinh tế trong suốt vài thập kỷ trước. Các nghiên cứu này bao gồm: King và Levine (1993), Atje và Jovanovic (1993), Demetriades và Hussein (1996), Levine và Zervos (1998), Rousseau và Wachtel (2000), và Arestis cùng cộng sự (2001). Những cuộc khủng hoảng liên tục tiếp diễn xảy ra trong vòng 20 năm (khủng hoảng tài chính Châu Á 1997 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008) cho thấy không đơn giản để tạo lập và thực thi một hệ thống tài chính hoạt động tốt. Bên cạnh hệ thống Ngân hàng, thị trường chứng khoán cũng là một nơi huy động vốn tốt và đây cũng là một thành phần quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế.
Tuy nhiên, sự thiếu minh bạch đã ngăn chặn phần nào dòng vốn chảy vào thị trường này. Và nền kinh tế không thể huy động vốn hiệu quả từ thị trường chứng khoán thì phải áp dụng hình thức huy động thông qua các định chế tài chính trung gian. Do đó, trọng tâm nghiên cứu của bài luận văn này là các kênh dẫn vốn như tín dụng, chứng khoán sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến nền kinh tế. Mục tiêu nghiên cứu Bài luận sẽ tập trung nghiên cứu các vấn đề sau đây: - Nghiên cứu tác động của cung tiền và các chính sách tiền tệ đến tăng trưởng kinh tế.
- Nghiên cứu tác động của thị trường chứng khoán đến nền kinh tế. - Xem xét ảnh hưởng qua lại giữa cung tiền và thị trường chứng khoán. - Mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến nêu trên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Mẫu nghiên cứu gồm 5 nền kinh tế đã từng trải qua cả 2 cuộc khủng hoảng (1997 và 2008) là Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan và Việt Nam. Mặc dù Việt Nam không bị ảnh hưởng/ảnh hưởng rất ít của cuộc khủng hoảng 1997 nhưng đến 2008 thì một số ảnh hưởng đã rõ ràng hơn. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu này, dựa trên chuỗi mô hình tự hồi quy vector (VAR) và mô hình sai số hiệu chỉnh (VECM) với dữ liệu được thu thập theo quý từ năm 2001 đến năm 2013 (do một số giới hạn về dữ liệu và để đồng bộ dữ liệu ở cả 5 quốc gia nên dữ liệu chỉ có thể cập nhật đến cuối năm 2013) và những kiểm định liên quan (kiểm định tính dừng ADF test/PP test hoặc kiểm định đồng liên kết Johansen test). Mức tăng trưởng kinh tế được đại diện bởi 2 biến là GDP (Y) và đầu tư nội địa (I), cung tiền được lấy theo hiệu số giữa cung tiền M2 và M1 (Rousseau và Wachtel (1998) đã trừ đi M1 từ M2 để đưa ra cách thức đo lường cung tiền dài hạn được tạo ra từ hệ thống Ngân hàng.
Theo quan điểm chung về cung tiền, cung tiền nghĩa rộng dùng để đầu tư cho các dự án dài hạn và duy trì/hỗ trợ cho sự phát triển. Ý nghĩa của đề tài Nghiên cứu này cho thấy rằng cả quy mô và tính thanh khoản của thị trường chứng khoán có ảnh hưởng cùng chiều đến sản lượng và đầu tư nội địa tại TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 các quốc gia nghiên cứu. Tuy nhiên, biến cung tiền lại có ảnh hưởng ngược chiều đối với các hoạt động trong nền kinh tế ở một số trường hợp. Nghiên cứu này khác với các nghiên cứu trước về thị trường tài chính và tăng trưởng kinh tế bởi vì xem xét tác động của cung tiền và thị trường chứng khoán lên tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn có xảy ra khủng hoảng kinh tế.
Trong khi các nghiên cứu khác, phần lớn trong thời gian nghiên cứu thì nền kinh tế tương đối ổn định và ít biến chuyển. Để kinh tế có thể tăng trưởng bền vững, bài nghiên cứu sẽ giúp đưa ra các giải pháp nhằm tập trung vào tác động ngắn và trung hạn của sự phát triển của thị trường chứng khoán trong việc giảm bớt/điều tiết ảnh hưởng của việc tăng trưởng tín dụng quá mức. Dưới quan điểm của đề tài, thị trường chứng khoán là một công cụ thay thế giúp nhà đầu tư phân bổ/tái phân bổ lại nguồn vốn dựa trên các tín hiệu của thị trường khi nhận thấy cung tiền có dấu hiệu tăng trưởng nóng. Nội dung chính của luận văn - Tổng quan lý thuyết: Có một số lý thuyết cổ vũ cho vai trò của cung tiền đối với nền kinh tế, một số khác lại chỉ ra rằng tăng trưởng tín dụng quá mức sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Các nghiên cứu về tác động của thị trường chứng khoán đến tăng trưởng kinh tế thì khá ít. - Dữ liệu nghiên cứu: Được thu thập theo quý tính trên bình quân đầu người trong khoảng thời gian từ 2001-2013 tại 5 quốc gia Việt Nam, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan. - Phương pháp nghiên cứu: VAR và VECM. - Kết quả nghiên cứu: Có sự tác động đồng biến giữa thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế trong khi tác động của cung tiền đến nền kinh tế là không rõ, thậm chí có khi nghịch biến.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Chương 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Các nghiên cứu lý thuyết 2. Nghiên cứu cho rằng thị trường tiền tệ có một vai trò quan trọng đối với các hoạt động kinh tế Greenwood và Jovanovic (1990) đã cho rằng có mối liên quan tác động qua lại giữa thị trường tiền tệ và tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng kinh tế góp phần thúc đẩy phát triển thị trường tiền tệ, và ngược lại, một thị trường tiền tệ được quản lý hiệu quả cũng sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Trong vài thập kỷ trước, khi một thị trường tiền tệ còn được quản lý đơn sơ, thì tăng trưởng kinh tế cũng diễn ra chậm chạp. Và gần đây, khi các công cụ quản lý tiền tệ được áp dụng nhiều hơn, phạm vi ảnh hưởng của các chính sách tiền tệ được mở rộng hơn thì nền kinh tế cũng đã phát triển nhanh và mạnh mẽ hơn. Bencivenga cùng cộng sự (1995) cho thì cho rằng khi lượng tiền trong nền kinh tế sụt giảm sẽ khiến cho các chi phí giao dịch tài chính gia tăng. Các chi phí giao dịch tài chính là nguyên nhân chính trong việc lựa chọn giữa việc nắm giữ tiếp tục các tài sản tài chính hiện tại hoặc đầu tư vào các tài sản tài chính mới.
Việc gia tăng chi phí giao dịch tài chính sẽ khiến các nhà đầu tư nhận thấy rằng nắm giữ các tài sản tài chính hiện tại không có lợi, điều này làm cho vốn đầu tư được sử dụng không hiệu quả vì thời gian sử dụng ngắn, hiệu suất sử dụng vốn thấp, và cứ tiếp tục như vậy sẽ khiến cho nền kinh tế chậm tăng trưởng. Và ngược lại, khi lượng cung tiền trong nền kinh tế gia tăng, các chi phí giao dịch tài chính giảm sẽ làm cho nguồn vốn đầu tư sẽ tiếp tục được sử dụng xoay vòng, kéo dài thời gian đáo hạn, hiệu suất sử dụng vốn cao. Việc này sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Tiếp theo, Greenwood và Smith (1997) lại nhấn mạnh quan điểm của họ như đã nêu ở trên.
Thị trường tiền tệ có một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, còn có một số quan điểm cho rằng ngân hàng cùng các định chế tài chính sẽ góp vai trò làm giảm chi phí liên quan đến vấn đề bất cân xứng thông tin trong các giao dịch tài chính. Một hệ thống tài chính được xây dựng tốt sẽ góp phần làm gia tăng giá trị của các chứng khoán giao dịch trên thị trường, giúp các doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn cho các dự án, và đưa ra thêm nhiều cơ hội chia sẻ rủi ro thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư cũng như áp dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro (hedging). Ngoài việc điều tiết dòng vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, các định chế tài chính trung gian còn có vai trò giúp phân bổ nguồn vốn sao cho đạt được lợi ích tối ưu.
Do đó, các định chế tài chính góp vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững. Nghiên cứu cho thấy những rủi ro của thị trường tiền tệ Một số nghiên cứu khác cũng đề cập đến những rủi ro tiềm ẩn liên quan đến hệ thống tài chính. Diamond và Dybvig (1983) phân tích cú sốc thanh khoản có thể dẫn đến phá vỡ hệ thống tài chính. Khi có một thông tin bất lợi trong nền kinh tế, người gửi tiền không còn tin tưởng nhiều vào hệ thống Ngân hàng thì sẽ dẫn đến tình trạng rút tiền hàng loạt, gây nên phản ứng dây chuyền trong hệ thống Ngân hàng.
Stiglitz (1994) nhấn mạnh vấn đề bất cân xứng thông tin và chi phí thu thập thông tin cùng với những sai sót của thị trường sẽ gây ra những ngoại tác tiêu cực, trong khi Radelet và Sachs (1998) cho rằng hệ thống tài chính hiện đại, riêng cho 1 nước và cả toàn cầu, về bản chất là không bền vững, do đó sẽ dễ dẫn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 đến phát sinh những nguồn vốn vào và ra không kiểm soát được. Điển hình là cuộc khủng hoảng tài chính ở Châu Á 1997. Vào thời điểm này, các nước châu Á theo đuổi lý thuyết bộ ba bất khả thi bằng cách thực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn với lãi suất cao hơn ở các nước phát triển. Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào đây.