Mở đầu cho giai đoạn này, Đặng Ngọc Thanh (1975) [4] tổng hợp kết quả điều tra thống kê thành phần loài tôm, cua nước ngọt miền Bắc Việt Nam, lần đầu đưa ra một danh lục gồm 27 loài tôm, cua đã thấy trong các thuỷ vực Bắc Việt Nam, trong đó có 11 loài cua thuộc các họ Potamidae và Parathelphusidae với 2 loài mới được mô tả (Somanniathelphusa kyphuensis, Potamiscus cucphuongensis). Tiếp theo đó, Đặng Ngọc Thanh và Trần Ngọc Lân (1992) [14] đã công bố 2 loài cua mới được phát hiện ở Trung Bộ (Orientalia rubra, O. Nhờ những hoạt động khảo sát mở rộng tới các thủy vực vùng cao Tây Nguyên được thực hiện trong những năm 2000 mà trước đây chưa có được, đã mở rộng hơn download by : skknchat@gmail.com 9 nhiều những hiểu biết về thành phần phân loại học cua nước ngọt Việt Nam, đặc biệt là về họ Potamidae đặc trưng cho các suối vùng núi. Từ những kết quả nghiên cứu này, Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2002, 2003, 2005, 2007, 2008) [7; 8; 9; 10; 11] đã xác lập các giống mới thuộc họ Potamidae phù hợp với những ý tưởng mới về giống cua Potamon Savigney (sensu lato) có ở Việt Nam, có thể là những giống đặc trưng cho vùng này, đó là: Vietopotamon 2002 (loài chuẩn: Vietopotamon aluoiensis Dang et Ho), Villopotamon 2003 (loài chuẩn: Villopotamon thaii Dang et Ho), Donopotamon 2005 (loài chuẩn: Donopotamon haii Dang et Ho), Dalatpotamon 2007 (Dalatopotamon sonii = Potamon loxophrys Kemp, 1923), Balssipotamon 2008 (Potamon frushtorferi Balss, 1914).
Cùng với sự tham gia của các tác giả nước ngoài, nhiều loài cua mới đã được tìm thấy ở Việt Nam. Tuerkay và Naiyanetr (1987) [167] sau khi xem xét một số mẫu thu ở miền Nam Việt Nam (được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris (MNHN) đã xác lập giống mới (Neolarnaudia) và loài mới (Neolarnaudia botti). Ở Trung Bộ, một số giống cua cạn, sống trong hang được phát hiện ở vùng núi Quảng Bình Nemoronnomas (Ng, 1996) [135]. Yeo và Ng (1998) [182; 183] đã công bố một số loài cua mới thuộc nhóm cua Potamon tananti Rathbun, 1904 được phát hiện ở miền Bắc Việt Nam như Potamon jinpinense (Dai, 1995) [46; 47; 48], Potamon cua (Yeo and Ng, 1998) [182; 183].
Họ Potamidae ở Việt Nam còn được bổ sung thêm một số loài mới từ công trình của Tohru Naruse, Nguyen Xuan Quynh và Darren C. Yeo (2011) [118] đó là: Indochinamon bavi, I. Ngoài ra, một số giống, loài khác cũng được bổ sung như loài Tiwaripotamon edostilus (Ng và Yeo, 2001) [150], Laevimon kottelati (Ng và Yeo, 2005) và Hainanpotamon auriculatum (Yeo và Naruse, 2007) [172]. Cùng với họ Potamidae, cua họ Parathelphusidae cũng được bổ sung thêm một số loài mới tìm thấy ở vùng đồng bằng Bắc Bộ và vùng núi Tây Nguyên, đều thuộc giống Somanniathelphusa như S.
dangi (Yeo & Quynh, 1999) được tìm thấy ở Hà Nội, S. triangularis được mô tả từ vùng rừng Bình Phước miền Nam Việt Nam (Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải, 2005) [9]. download by : skknchat@gmail.com 10 Gần đây, trong cuốn sách chuyên khảo ―Tôm cua nước ngọt Việt Nam (Palaemonidae, Atyidae, Parathelphusiadae, Potamidae‖, hai tác giả Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2012) [12] đã đưa ra danh sách 34 loài cua nước ngọt của Việt Nam. Các tác giả đã thống kê tương đối đầy đủ các loài cua đã được ghi nhận ở Việt Nam cho tới thời điểm hiện tại, cũng như đưa ra một số bàn luận về phân loại học về cua nước ngọt của Việt Nam.
Tuy nhiên, do thiếu cơ sở mẫu và dẫn liệu, các tác giả trên cũng không đưa vào danh sách nhiều loài cua nước ngọt đã được ghi nhận ở Việt Nam. Các nghiên cứu về phân loại học giống cua Tiwaripotamon Giống cua Tiwaripotamon thuộc họ cua suối – Potamidae, là giống cua nước ngọt sống trong các vùng núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam và Tây Nam Trung Quốc. Giống cua này được xác lập bởi Bott dựa trên loài chuẩn là Geothelphusa annamensis Balss, 1914 (phân bố ở Bắc Việt Nam). Bott (1970) đã đưa vào giống này 6 loài khác nữa là T.
Trong việc xác lập giống này, Bott chú thích rằng tất cả các loài này có mai tương đối phẳng, mép trán ngắn, các chân bò tương đối dài và mảnh, và quan trọng nhất là đốt ngọn của G1 con đực cong lên phía trên rõ. Sau đó, ba loài nữa từ Tây Nam Trung Quốc được thêm vào giống này là: T. depressum Dai, Song, Li, & Liang, 1980; T. glabrum Dai, Song, Li, & Liang, 1980; T.
Turkay và Naiyanetr (1987) và Ng (1992) nhận thấy Tiwaripotamon, theo nghĩa (sensu) của Bott, 1970, là không đồng nhất. austenianum, và Potamon whiteheadi Parisi, 1916 (được xem là tên đồng danh của T. araneum bởi Bott (1970) [32], hiểu theo nghĩa hẹp (sensu stricto); ii) T. artifron được đưa vào một giống riêng biệt (sau này được mô tả là Ovitamon Ng & Takeda, 1992); iii) T.
adiatretum, Potamon adiatretum lophocarpus Kemp, 1913, Potamon superciliosum Kemp, 1913 [được coi là tên đồng danh của T. adiatretum bởi Bott (1970)], Potamon loxophrys Kemp, 1923, và Potamon dehaani laevior Kemp, 1923; và iv) T. pusillum trong Larnaudia cùng với download by : skknchat@gmail. Dai và Naiyanetr (1994) [41] sau đó đã đánh giá lại các loài Trung Quốc trước đó được xem là Tiwaripotamon và thiết lập hai giống mới là Neotiwaripotamon Dai & Naiyanetr, 1994, bao gồm P.
whiteheadi; và Chinapotamon Dai & Naiyanetr, 1994, bao gồm T. Trong giống Tiwaripotamon được xác định lại, Dai & Naiyanetr (1994) chỉ công nhận ba loài: T. pingguoense Dai & Naiyanetr, 1994, và T. xiurenense Dai & Naiyanetr, 1994.
Các tác giả này nhận xét rằng phân loại của các loài khác trong Bott (1970) và Ng (1992) là không chắc chắn. Ng & Yeo (2001) đã kiểm tra lại các mẫu vật (bao gồm các mẫu chuẩn) của T. dehaanilaevior và khẳng định 5 loài sau không liên quan đến giống Tiwaripotamon như đã được xác định. Những loài này có các chân bò dài bình thường (không kéo dài), khác về các đặc điểm mai và bụng con đực, cũng như khác về cơ bản trong cấu trúc của G1.
Potamon simulum cũng như Telphusa austeniana, có hình dáng ngoài tương tự như Tiwaripotamon hiểu theo nghĩa hẹp (sensu stricto), tuy nhiên khác về một số đặc điểm quan trọng trong chuẩn loại giống, và như vậy, phải được loại trừ khỏi giống Tiwaripotamon. Potamon simulum nên được đưa vào giống Kanpotamon Ng và Naiyanetr, 1993, trong khi vị trí giống của T. austeniana là không chắc chắn (incerta sedis) cho đến thời điểm này. Phân loại loài Telphusa austeniana Wood- Mason, 1871 có rắc rối hơn bởi vì mẫu chuẩn đã không còn tồn tại.
Yeo và các nhà quản lý ZSI cũng không thể tìm thấy mẫu vật của loài này trong chuyến thăm vào năm 1999. Mô tả và hình ảnh tốt của Wood- Mason (1871: 203, pl. 13) cho thấy loài này không thuộc về giống Kanpotamon. Do đó vị trí giống của loài này phải được coi là không chắc chắn cho đến khi các loài Potamon của Ấn Độ, hiểu theo nghĩa rộng, được xem xét lại (Ng & Yeo, 2001) [150].
Yeo & Ng (2001) đã đưa ra đặc điểm chuẩn loại của giống Tiwaripotamon, mô tả lại hai loài T. araneum dựa trên mẫu chuẩn và mô tả mới loài T. edostilus thu ở Cát Bà, Hải Phòng. Các tác giả trên cũng đã xây dựng một khóa phân loại cho giống này, bao gồm 3 loài nói trên của Việt Nam và 2 loài có phân bố ở download by : skknchat@gmail.com 12 Quảng Tây, Trung Quốc (T.
xiurenense Dai & Naiyanetr, 1994; T. pingguoense Dai & aiyanetr, 1994). Đặng Ngọc Thanh và cs. (1980), Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2001) [6] chỉ ghi nhận một loài duy nhất T.
annamense trong giống này ở Việt Nam. Các tác giả cũng cho rằng loài này có phân bố rộng ở suối, sông vùng núi và trung du giáp núi Chi Nê – Hòa Bình, Ký Phú – Bắc Thái, Phúc Sơn – Nam Trung Bộ. Đặng Ngọc Thanh & Hồ Thanh Hải (2002) [7] đã mô tả loài mới Geothelphusa vietnamica thu ở Cúc Phương, Ninh Bình. Sau đó, loài này được xem là thuộc giống Tiwaripotamon bởi Yeo & Naruse (2007) [172] và Hainanpotamon Dai, 1995 trong công trình nghiên cứu của Ng et al.
Trong Sách chuyên khảo về tôm, cua nước ngọt Việt Nam, Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh Hải (2012) [12] đã ghi nhận 3 loài cua thuộc giống Tiwaripotamon, đó là: T. Các tác giả trên cũng cho rằng giống cua này có phân bố ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc tới các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan, Philippin. Gần đây các nghiên cứu của Shih & Do (2014) [162], Do et al., (2016) đã mô tả thêm 2 loài mới thuộc giống này T. vixuyenense Shih & Do, 2014 và T.
pluviosum Do, Shih & Huang, 2016. Đặc biệt là, các nghiên cứu này đã tiến hành phân tích gen ty thể cytochrome oxidase subunit I (COI) để khẳng định sự tách biệt của các loài trong giống. Đặc điểm giải phẫu bên ngoài và một số đặc tính sinh học, sinh thái của cua nƣớc ngọt 1. Đặc điểm giải phẫu bên ngoài của cua nƣớc ngọt.
download by : skknchat@gmail.1: Hình thái mai (1) : lưng; (2): trán; (3): trán nhìn chếch từ dưới của họ Potamidae 1: rãnh trung vị; 2a: thùy thượng vị; 2b: rãnh chữ H; 3: rãnh ruột; 4: vùng sau dưới; 5a: vùng bên trước; 5b: vùng bên; 5c: vùng bên sau; 6: rãnh mang; 7: vùng tim; 8: gờ thượng vị; 9: gờ sau ổ mắt; 10: cạnh trước trán; 11: mắt; 12: răng gốc ổ mắt; 13: răng bên trước; 14: cạnh bên trước; 15: cạnh bên sau; 16: cạnh sau; 17: gốc anten; 18: cuống mắt; 19: thùy trên miệng; 20: Ischium chân hàm III; 21: vùng dưới ổ mắt. download by : skknchat@gmail. Các tấm giáp ngực cua nước ngọt họ Potamidae I-VIII: các tấm giáp ngực; 3,4: rãnh giữa các tấm giáp; 5: rãnh trung vị. download by : skknchat@gmail.
Cơ quan giao phối con đực họ Potamidae Gonopod 1: chân sinh dục 1; Gonopod 2: chân sinh dục 2; Subterminal segment of Gonopod 1: đốt trước ngọn của chân sinh dục 1; Terminal article of Gonopod 1: đốt ngọn của chân sinh dục 1; Terminal article of Gonopod 2 (flagellum): đốt ngọn của chân sinh dục 2 (roi). download by : skknchat@gmail. Các đốt bụng: I-VII (đốt VII = đốt telson) cua nước ngọt họ Potamidae (1): đốt bụng con đực họ Potamidae; (2): đốt bụng con cái. Một số đặc tính sinh học, sinh thái của cua nƣớc ngọt.
Hệ hô hấp Ở cua nước ngọt, mang nằm trong buồng mang, được tạo thành bởi các mảnh nắp mang của vỏ giáp ngực. Cua nước ngọt có 9 đôi mang điển hình (giống như cua biển). Cua nước ngọt có phần lớn thời gian là hô hấp ở trong nước. Nước vào buồng mang qua các khe hút (gọi là khe Milne-Edwards) nằm giữa các khớp gốc của càng và chân bò với gờ mai.
Nước được hút ra khỏi mang qua ống ở cạnh khoang miệng.