CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Hệ vi nhũ tương 1. Giới thiệu Vi nhũ tương được khám phá khá sớm, từ những năm 40 của thế kỷ XX, do hai nhà khoa học Hoar và Schumann tình cờ phát hiện ra khi hoà tan nhũ tương sữa vào hexanol. Từ đó đến nay, rất nhiều nghiên cứu về vi nhũ tương được tiếp nối và cũng có nhiều định nghĩa được đưa ra cho nghiên cứu dạng bào chế này.
Theo Danielson và Lindman, hệ vi nhũ tương được định nghĩa như sau: “Vi nhũ tương là hệ phân tán dị thể, gồm pha dầu và pha nước phân tán đồng nhất vào nhau và được ổn định bởi phân tử các chất hoạt động bề mặt phân cách hai pha, có tính đẳng hướng về mặt quang học, ổn định về nhiệt động học giống như một dung dịch lỏng” [15]. Như vậy, một hệ vi nhũ tương là một dung dịch đẳng quang và bền nhiệt động, khi quan sát qua kính hiển vi sẽ thấy như một dung dịch đồng thể, nhưng ở kích thước phân tử thì nó lại là hệ dị thể. Thành phần hệ vi nhũ tương [7] Thành phần cơ bản của hệ vi nhũ tương gồm 3 phần chính: 1. Bản chất pha dầu ảnh hưởng đến tính chất bề mặt phân cách pha do ảnh hưởng đến sự thấm ướt phần đuôi không phân cực của chất hoạt động bề mặt (viết tắt: HĐBM).
Các loại dầu chứa mạch hydrocarbon ngắn dễ thấm ướt phần đuôi không phân cực của chất HĐBM hơn nên sức căng bề mặt trên ranh giới 2 pha dầu/nước giảm nhiều hơn. Các acid béo no (acid lauric, myristic, capric) và không no (acid oleic, acid linoleic, acid linolenic) có tính chất thấm ướt tốt đã được nghiên cứu sử dụng từ lâu. Các ester của acid béo như ester methyl hay ethyl của acid lauric, myristic, oleic cũng có thể được dùng làm pha dầu. Tiêu chuẩn chính để 4 chọn lựa pha dầu là có khả năng hòa tan tốt hoạt chất, điều này sẽ làm giảm thiểu liều lượng vi nhũ tương sử dụng để chuyển giao hoạt chất.
Pha nước (ký hiệu: W): chứa những chất lỏng phân cực như nước, ethanol, propylen glycol,. Chất HĐBM (surfactant): là những chất có khả năng làm giảm sức căng bề mặt phân chia giữa 2 pha dầu và nước, giúp hình thành và ổn định hệ vi nhũ tương. Về cấu trúc hóa học, chất HĐBM điển hình là những hợp chất lưỡng thân, tức trong phân tử có chứa 2 phần: • Phần ưa nước (đầu phân cực): thường là các nhóm chức phân cực như - OH, -NH2, -COO-, SO42-, SO32-, … có moment lưỡng cực cao • Phần ưa dầu: là gốc hydrocarbon không phân cực hoặc ít phân cực, có moment lưỡng cực thấp. Ngoài ra, vị trí gắn các nhóm chức phân cực, độ dài và độ phân nhánh của gốc hydrocarbon không phân cực cũng là các thông số quan trọng ảnh hưởng đến tính chất hóa lý và khả năng nhũ hóa của chất HĐBM.
Nói chung, đuôi hydrocarbon càng dài thì độ tan của chất HĐBM trong pha dầu càng tăng nhưng độ tan trong nước càng giảm, dẫn đến khả năng nhũ hóa nhũ tương O/W giảm. Dựa vào điện tích, người ta chia chất HĐBM thành 3 loại: chất HĐBM ion, chất HĐBM lưỡng tính và chất HĐBM không ion. a) Chất HĐBM ion (bao gồm chất HĐBM cation và chất HĐBM anion): có khả năng phân ly thành ion trong dung dịch, do đó nó nhạy với sự thay đổi pH và nồng độ chất điện ly trong dung dịch. Khi vi nhũ tương được nhũ hóa bằng các chất HĐBM ion thì độ bền của chúng được duy trì nhờ lực đẩy tĩnh điện gây ra bởi điện tích của đầu phân cực của chất HĐBM.
Vì vậy, đối với chất HĐBM ion thì khi tăng nồng độ chất điện ly hay thay đổi pH dung dịch có thể xảy ra sự nén lớp kép trên bề mặt giọt vi nhũ tương, làm giảm điện tích bề mặt giọt nên các giọt có thể đến gần nhau và keo tụ. 5 b) Chất HĐBM lưỡng tính: chứa 2 nhóm chức ion hóa ngược dấu nhau trong phân tử, do đó điện tích của nó phụ thuộc vào pH dung dịch. Mỗi phân tử chất HĐBM lưỡng tính tồn tại một giá trị điểm đẳng điện pI, đó là pH tại đó điện tích dương bằng điện tích âm. Khi pH < pI thì chất HĐBM lưỡng tính mang điện tích dương; khi pH > pI thì mang điện tích âm.
Chất HĐBM lưỡng tính thường hiệu quả hơn khi dùng kết hợp với chất HĐBM anion hay không ion. c) Chất HĐBM không ion: không mang điện tích nên tương thích với nhiều hệ dung dịch do không tương tác với các chất mang điện tích khác. Do vậy, sự thay đổi pH và lực ion của dung dịch ít ảnh hưởng đến tính bền của hệ vi nhũ tương được nhũ hóa bằng chất HĐBM không ion. Tuy nhiên, khi nhiệt độ tăng thì độ tan của chất HĐBM không ion trong dung dịch nước giảm.
Chất HĐBM không ion thường dùng trong công nghiệp thực phẩm và dược phẩm là ester của các đường. Dưới đây là một số chất HĐBM không ion được sử dụng nhiều trong điều chế vi nhũ tương: • Tween 80 (E433) [25]: tên đầy đủ là polyoxyethylen (20) sorbitan monooleate hay (x)-sorbitan mono-9-octadecenoate poly (oxy-1,2-ethanediyl); tên thương mại là Alkest TW 80, Scattics, Canarcel, Poegasorb 80, polysorbate 80. Công thức cấu tạo của Tween 80 (C64H124O26; M = 1310 g/mol) Tween 80 là chất lỏng, màu vàng nhạt, tan trong nước, không độc, hàm lượng nước tối đa 3%, chỉ số HLB = 15 (HLB: Hydrophylic Lipophylic Balance: Chỉ số cân bằng ưa dầu - ưa nước). Span 80 là chất HĐMB không ion thường dùng trong sản xuất thực phẩm và dược phẩm.
Nó là chất lỏng như dầu, màu nâu vàng, không độc, hàm lượng nước tối đa 0,5%, hơi nhẹ hơn nước (khối lượng riêng ở 20oC là 0,994g/mL), có chỉ số HLB = 4,3. Công thức cấu tạo của Span 80 (C24H44O6; M = 428,61 g/mol) • Lecithin [27]: là chất HĐBM lưỡng tính, thường được sử dụng để làm mịn kết cấu thực phẩm, hòa tan bột (nhũ hóa), đồng hóa hỗn hợp lỏng và một số ứng dụng khác trong y học. Lecithin là các phosphatidylcholine (là phospholipid tạo nên bởi acid phosphoric với choline, glycerol hoặc các acid béo khác). Lecithin có sẵn từ các nguồn như đậu nành , trứng, sữa, các nguồn hải sản, hạt cải dầu, hạt bông và hướng dương.
Nó kém tan trong nước nhưng là một chất chuyển thể sữa tuyệt vời. Trong dung dịch nước, phospholipid của nó có thể tạo thành hoặc liposome, tấm kép, mixen, hoặc cấu trúc dạng tấm, tùy thuộc vào độ ẩm và nhiệt độ. Công thức cấu tạo của phosphatidylcholine (một loại phospholipid trong Lecithin) 7 • SLS (Sodium lauryl sulfate) hay SDS (Sodium dodecyl sulfate): có công thức CH3(CH2)11OSO3Na. Đây là một chất HĐBM anion thường được sử dụng trong các sản phẩm làm sạch và vệ sinh, mỹ phẩm, thực phẩm và dược phẩm [12].
Công thức cấu tạo của SLS • Gum arabic (E414) [24]: còn gọi là gum acacia, là một hỗn hợp phức tạp giữa glycoprotein và polysaccharide trong đó có chứa các đường arabinose và ribose. Nó là chất keo dính tự nhiên, có thể ăn được, thường dùng làm chất nhũ hóa hay chất làm đặc (thickening agent) trong công nghiệp thực phẩm. Nó cũng được dùng để kiểm soát độ nhớt trong công nghiệp in, sơn, dệt, sản xuất mực viết hay mỹ phẩm,… Gum arabic không tan trong chất béo, có độ nhớt thấp. Gum arabic có thể hòa tan trong nước lạnh trong khi các loại gum khác thì không thể hoặc tạo huyền phù ở dạng keo hoặc không tan hoàn toàn.
Độ nhớt của gum arabic phụ thuộc vào pH và nồng độ muối. Giá trị pH tự nhiên của dung dịch gum arabic trong khoảng 3,9 - 4,9, do đó gum arabic rất ổn định trong môi trường acid, vì vậy nó được sử dụng rất tốt để ổn định mùi của nước hoa quả. Tuy nhiên, do có protein trong cấu trúc của nó nên gum arabic nhạy với nhiệt: khả năng nhũ hóa sẽ giảm khi đun nóng. Công thức cấu tạo của gum arabic [24] 8 Ngoài ra, đôi khi trong thành phần vi nhũ tương còn có các chất đồng HĐBM (co-surfactant), đó là các chất có bản chất giống chất HĐBM, tức cũng là một chất lưỡng thân nhưng phần không phân cực là các hydrocarbon mạch ngắn hơn.
Do có đuôi hydrocarbon ngắn hơn nên chất đồng HĐBM linh hoạt hơn chất HĐBM: khi cho thêm chất đồng HĐBM vào hệ nhũ tương chúng sẽ hấp phụ trên bề mặt các giọt dầu xen giữa các khoảng trống giữa các phân tử chất HĐBM, đồng thời làm giảm sự tương tác giữa đầu phân cực và đầu không phân cực làm cho sự nhũ hóa các giọt dầu hoàn toàn hơn [21]. Các chất đồng HĐBM có thể là chất HĐBM không ion có trị số HLB trung bình. Chúng thường là các alcol, acid alkanoic, alkyl amin hay ester mạch ngắn như isopropanol, n-propanol, alcol benzylic, glyceryl caprilate… Trong một số trường hợp, bản thân hoạt chất cũng đóng vai trò như chất đồng HĐBM [30]. Ngoài ra, trong vi nhũ tương còn có thể chứa những chất khác như chất tăng khả năng hấp thu, chất tạo mùi, chất bảo quản…[7].
Phân loại các hệ vi nhũ tương Một trong những cách tốt nhất để phân loại các hệ vi nhũ tương là dựa vào vùng đẳng hướng của nó trong giản đồ pha. Giản đồ pha của hệ vi nhũ tương gồm 3 thành phần chính là pha nước, chất HĐBM và pha dầu. Giản đồ pha của hệ vi nhũ tương gồm pha dầu, nước và chất HĐBM [21] (O: pha dầu, W: pha nước, ME: vi nhũ tương) 9 Nói chung, ở nồng độ pha dầu thấp, vi nhũ tương dầu/nước (O/W) sẽ hình thành. Ngược lại, ở nồng độ dung dịch nước thấp thì vi nhũ tương nước/dầu (W/O) sẽ được hình thành.
Ngoài ra, các vùng đẳng hướng cũng có thể cùng tồn tại với giai đoạn khác nhau, có thể khi dư pha dầu hay dư pha nước hoặc một số giai đoạn không đủ hàm lượng chất HĐBM. Winsor chia các hệ vi nhũ tương thành 4 loại: Hệ Winsor I: hệ dầu phân tán trong nước (O/W) Hệ Winsor II: hệ nước phân tán trong dầu (W/O) Hệ Winsor III: Hệ 3 pha, trong đó chất hoạt động bề mặt tan trong cả hai pha (vi nhũ tương trung gian) Hệ Winsor IV: Dung dịch mixen 1 pha (đẳng hướng) khi thêm 1 lượng vừa đủ chất HĐBM và alcol. Mô hình mô tả các hệ Winsor [20] 1. Vi nhũ tương W/O Những hợp chất ưa nước thường hòa tan trong hệ dung dịch nước và không cần thiết phải có công thức cụ thể.
Tuy nhiên, nếu hoạt tính sinh học giảm do bị oxy hóa hoặc thủy phân (hóa học hoặc enzym) thì chúng cần được bảo vệ.