Công tác xã hội với trẻ khuyết tật: Thực tiễn tại các cơ sở ở Đà Lạt

Nghiên cứu về công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại các cơ sở trợ giúp xã hội ở Đà Lạt, phân tích thực trạng và hiệu quả các hoạt động.

Trường đại học

Đại học Đà Lạt

Chuyên ngành

Xã hội học và Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường

2021

126
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của công tác xã hội với trẻ khuyết tật

Công tác xã hội với trẻ khuyết tật là một lĩnh vực quan trọng trong việc hỗ trợ và chăm sóc những em nhỏ có nhu cầu đặc biệt. Tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, các cơ sở trợ giúp xã hội đã triển khai nhiều hoạt động nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống cho trẻ khuyết tật. Công tác xã hộiối với đối tượng này không chỉ giới hạn ở việc chăm sóc y tế mà còn bao gồm hỗ trợ giáo dục, phát triển kỹ năng sống và hòa nhập xã hội. Các nghiên cứu của Trường Đại học Đà Lạt đã chứng minh rằng việc áp dụng công tác xã hội hiệu quả giúp nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần và khả năng thích ứng của trẻ. Tầm quan trọng của lĩnh vực này nằm ở chỗ nó giúp trẻ khuyết tật có cơ hội phát triển toàn diện và tham gia đầy đủ vào cộng đồng.

1.1. Định nghĩa trẻ khuyết tật và phân loại

Trẻ khuyết tật được định nghĩa là những em nhỏ dưới 18 tuổi có những hạn chế về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan. Tại các cơ sở xã hội Đà Lạt, trẻ khuyết tật được phân loại theo nhiều dạng khác nhau: khiếm thị, khiếm thính, thiểu năng trí tuệ, thiểu năng vận động và khuyết tật đa chiều. Mỗi dạng khuyết tật đòi hỏi phương pháp hỗ trợ xã hội khác nhau, phù hợp với nhu cầu và khả năng của từng em.

1.2. Vai trò của công tác xã hội

Công tác xã hội đóng vai trò cầu nối giữa trẻ khuyết tật với các dịch vụ hỗ trợ và cộng đồng. Nhân viên công tác xã hội tại Đà Lạt cung cấp tư vấn, hỗ trợ tâm lý và giúp trẻ phát triển kỹ năng sống cần thiết. Họ cũng làm việc với gia đình để tăng cường sự hiểu biết và hỗ trợ từ cộng đồng.

II. Các hoạt động công tác xã hội tại các cơ sở trợ giúp xã hội Đà Lạt

Các cơ sở xã hội tại thành phố Đà Lạt triển khai nhiều hoạt động đa dạng nhằm hỗ trợ toàn diện cho trẻ khuyết tật. Theo báo cáo nghiên cứu của Đại học Đà Lạt, các hoạt động bao gồm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, vui chơi giải trí, hỗ trợ tâm lý và dạy nghề. Những cơ sở như Làng Hòa Bình, Trường Khiếm thính Lâm Đồng, Trường Thiểu năng Hoa Phong Lan và các lớp khuyết tật Mai Anh đã chứng minh hiệu quả của các dịch vụ trợ giúp xã hội trong việc cải thiện chất lượng sống. Các hoạt động này không chỉ đáp ứng nhu cầu cơ bản mà còn tạo điều kiện để trẻ phát triển kỹ năng, tăng cường tự tin và hòa nhập với xã hội. Sự kết hợp giữa chăm sóc y tế, giáo dục và hỗ trợ tâm lý tạo nên một hệ thống công tác xã hội toàn diện.

2.1. Hoạt động chăm sóc và nuôi dưỡng

Chăm sóc và nuôi dưỡng là những hoạt động cơ bản tại các cơ sở xã hội. Trẻ khuyết tật được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, chăm sóc vệ sinh, theo dõi sức khỏe định kỳ. Các nhân viên được đào tạo để hỗ trợ các nhu cầu đặc biệt của từng em.

2.2. Hoạt động giáo dục và dạy nghề

Giáo dục là trọng tâm của công tác xã hội tại Đà Lạt. Trẻ khuyết tật được học tập các kiến thức văn hóa, kỹ năng sống và dạy nghề để chuẩn bị cho cuộc sống độc lập. Các chương trình hỗ trợ nghề nghiệp giúp trẻ có cơ hội tạo việc làm và tự lập.

2.3. Hoạt động hỗ trợ tâm lý

Hỗ trợ tâm lý là hoạt động quan trọng giúp trẻ vượt qua các khó khăn về cảm xúc. Các nhân viên công tác xã hội cung cấp tư vấn, hỗ trợ tâm lý và tạo môi trường an toàn để trẻ phát triển lành mạnh.

III. Những thách thức và yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội

Mặc dù các cơ sở trợ giúp xã hội tại Đà Lạt đã có những nỗ lực đáng kể, vẫn tồn tại nhiều thách thức ảnh hưởng đến chất lượng công tác xã hội với trẻ khuyết tật. Các yếu tố chính bao gồm yếu tố về chính sách, nhân viên, cơ sở vật chất, ngân sách và kết nối nguồn lực. Theo báo cáo của Trường Đại học Đà Lạt, hạn chế về kinh phí là một trong những rào cản lớn nhất trong việc nâng cấp trang thiết bị và mở rộng dịch vụ trợ giúp xã hội. Ngoài ra, nhu cầu về đào tạo chuyên môn cho nhân viên công tác xã hội cũng là một vấn đề cần được ưu tiên. Việc thiếu hụt nhân viên công tác xã hội có chuyên môn cao cũng làm ảnh hưởng đến hiệu quả hỗ trợ trẻ khuyết tật.

3.1. Yếu tố về chính sách và ngân sách

Chính sách hỗ trợ xã hội chưa được hoàn thiện đầy đủ, dẫn đến hạn chế về nguồn lực. Ngân sách cấp cho các cơ sở xã hội tại Lâm Đồng còn thấp so với nhu cầu thực tế. Việc kết nối nguồn lực từ các tổ chức xã hội cần được tăng cường để trợ giúp hiệu quả cho trẻ.

3.2. Yếu tố về nhân viên và cơ sở vật chất

Nhân viên công tác xã hội tại Đà Lạt cần được đào tạo chuyên môn cao hơn. Cơ sở vật chất tại một số cơ sở xã hội còn thiếu thốn, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của trẻ. Cần đầu tư nâng cấp trang thiết bị để hỗ trợ trẻ khuyết tật hiệu quả hơn.

IV. Hướng phát triển và kiến nghị cải thiện công tác xã hội

Để nâng cao hiệu quả công tác xã hội với trẻ khuyết tật tại Đà Lạt, cần triển khai những giải pháp toàn diện. Trước tiên, cần tăng cường đầu tư vào cơ sở vật chấtngân sách cho các cơ sở xã hội. Thứ hai, cần có kế hoạch đào tạo chuyên môn và nâng cao kỹ năng cho nhân viên công tác xã hội. Thứ ba, cần kết nối tốt hơn giữa các cơ sở trợ giúp xã hội với cộng đồng và các tổ chức xã hội để hỗ trợ đầy đủ hơn. Cuối cùng, cần xây dựng chính sách hoàn thiện nhằm hỗ trợ trẻ khuyết tật và gia đình họ. Những kiến nghị này dựa trên kết quả nghiên cứu của các chuyên gia từ Đại học Đà Lạt, nhằm tạo ra dịch vụ trợ giúp xã hội chất lượng cao và bền vững.

4.1. Giải pháp nâng cấp cơ sở vật chất và tài chính

Cần lập kế hoạch đầu tư dài hạn để nâng cấp cơ sở vật chất tại các cơ sở xã hội Đà Lạt. Tăng ngân sách cho hoạt động hỗ trợ xã hội để đảm bảo trẻ khuyết tật được chăm sóc đầy đủ. Kết nối nguồn lực từ các nhà tài trợ và tổ chức ngoài nước.

4.2. Phát triển nhân lực công tác xã hội

Xây dựng chương trình đào tạo chuyên môn cho nhân viên công tác xã hội. Cần tuyển dụng thêm nhân viên có trình độ cao để hỗ trợ trẻ khuyết tật tốt hơn. Khuyến khích hợp tác với các trường đại học để nghiên cứu và ứng dụng các phương pháp công tác xã hội tiên tiến.

4.3. Xây dựng chính sách và cộng đồng hóa dịch vụ

Cần xây dựng chính sách hoàn thiện để hỗ trợ trẻ khuyết tật toàn diện. Tăng cường kết nối với cộng đồng để hòa nhập xã hội cho trẻ. Phối hợp với các cơ sở xã hội khác để tạo mạng lưới trợ giúp bền vững.

18/12/2025
Công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật từ thực tiễn các cơ sở trợ giúp xã hội tại thành phố đà lạt

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ KHUYẾT TẬT 1. Khái quát tình hình nghiên cứu của đề tài Trẻ em khuyết tật là một trong số những nhóm nhận được sự quan tâm nhiều của các quốc gia, tổ chức, cá nhân. Hoạt động CTXH đối với trẻ em khuyết tật nhằm cung cấp các dịch vụ xã hội cần thiết giúp trẻ khuyết tật có thể đáp ứng các nhu cầu và phát triển toàn diện hơn. Trong lĩnh vực CTXH với NKT nói chung và trẻ em khuyết tật nói riêng có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý như sau: Nghiên cứu về trẻ khuyết tật Liên quan đến trẻ khuyết tật, tài liệu về thực hành an sinh và bảo vệ trẻ em “Child Protection and Welfare Practic” của Health Service Executive (2011) (Executive, 2011) chỉ ra rằng trẻ em khuyết tật cũng như trẻ em không khuyết tật đều có quyền được bảo vệ.

Tuy nhiên, trẻ em khuyết tật có nguy cơ bị lạm dụng và bỏ rơi nhiều hơn trẻ em không khuyết tật. Tài liệu cũng chỉ ra rằng trẻ em khuyết tật trong một nghiên cứu quy mô lớn ở Mỹ của tác giả Sullivan và Knutson cho thấy trẻ khuyết tật có nguy cơ bị lạm dụng hoặc bỏ rơi nói chung cao gấp 3,4 lần so với trẻ em không khuyết tật, nguy cơ bị bỏ quên cao gấp 3,8 lần; nguy cơ bị lạm dụng thân thể cao gấp 3,8 lần; nguy cơ bị lạm dụng tình dục cao gấp 3,1 lần; và nguy cơ bị lạm dụng tình cảm cao gấp 3,9 lần. Một số nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các dạng khuyết tật khác nhau có mức độ rủi ro khác nhau đối với bạo lực. Ví dụ, những người bị rối loạn hành vi đối mặt với nguy cơ bị lạm dụng thể chất nhiều hơn, trong khi những người bị rối loạn ngôn ngữ có nguy cơ bị bỏ rơi.

Phát hiện từ nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt nào về hình thức ngược đãi trẻ em thường xuyên xảy ra nhất giữa trẻ em khuyết tật và không khuyết tật. Đối với cả hai nhóm, bỏ bê là phổ biến nhất, sau đó là lạm dụng thể chất, lạm dụng tình dục và lạm dụng tình cảm. Trẻ em khuyết tật đặc biệt dễ bị tổn thương và có nhiều nguy cơ bị tất cả các hình thức lạm dụng hơn, bao gồm cả lạm dụng khi được chăm sóc trong các cơ sở giáo dục. Những vấn đề nguy cơ đối với trẻ khuyết tật so với trẻ không khuyết tật là sự cô lập về mặt xã hội cao hơn.

Trẻ khuyết tật có nguy cơ bị lạm dụng vì trẻ thường xuyên nhận được sự chăm sóc cá nhân thân mật từ một số người chăm sóc, điều này có thể làm tăng nguy cơ tiếp xúc với hành vi lạm dụng. Trẻ có thể khó phân biệt giữa động chạm thích hợp và không phù hợp và quyền lựa chọn của chúng về người thực hiện việc chăm sóc đó. 6 Trẻ dễ bị bắt nạt, đe dọa, bị ngược đãi. Ngoài các yếu tố nguy cơ tồn tại đối với tất cả trẻ em, trẻ em khuyết tật có nguy cơ bị các hình thức lạm dụng cụ thể, ví dụ: uống quá nhiều thuốc, cho ăn và đi vệ sinh kém, thiếu thông tin, thiếu sự hỗ trợ tinh thần, v.

Bên cạnh những vấn đề liên quan đến việc bị lạm dụng và bỏ quên trong việc chăm sóc, liên quan đến cảm xúc tình dục, nghiên cứu chỉ ra rằng những cảm xúc tình dục của trẻ khuyết tật thường không được thừa nhận, trẻ có thể thiếu hiểu biết hoặc giáo dục giới tính, và điều này có thể làm tăng tính dễ bị tổn thương của họ. Hành vi khiêu dâm và / hoặc quấy rối thường được coi là một phần khuyết tật của trẻ mà không cần suy nghĩ hoặc thắc mắc thêm. Về việc lựa chọn và ra quyết định, trẻ khuyết tật thường đã quen với việc được hướng dẫn, vì thế trẻ khó khăn trong việc lựa chọn hoặc quyết định những vấn đề liên quan đến trẻ. Trong cuốn sách Tâm lý NKT (Spychology of disability), xuất bản lần thứ 2 của Carolyn L.

Vash và Nancy M. Crewe có hai phần chính gồm phần một là trải nghiệm của NKT và phần hai là can thiệp. Về trải nghiệm của NKT, các tác giả đã nghiên cứu và chỉ ra các khía cạnh trải nghiệm khác nhau của NKT như: phản ứng của cá nhân với vấn đề khuyết tật, nhìn nhận trên thế giới về NKT, sinh tồn, sống độc lập, tình yêu gia đình, kết đôi với vấn đề tình dục và sự riêng tư, giáo dục việc làm, bạn bè, và các mối quan hệ xã hội, trải nghiệm khuyết tật. Cách can thiệp thông qua chính sách, pháp luật, sự khác biệt giữa các cá nhân, phương pháp tâm lý, tham vấn đồng đẳng và các dịch vụ liên quan, tiếp cận liệu pháp tâm lý.

(Crewe, 2003) Cuốn Xóa bỏ kỳ thị: Quan điểm và đánh giá của NKT (2017) do tổ chức Isee thực hiện với mong muốn NKT được lên tiếng và được lắng nghe đã có nghiên cứu về các nội dung sau: (1) Giới thiệu về khuyết tật và kỳ thị với tổng quan về NKT trên thế giới, các thay đổi trong tiếp cận vấn đề NKT trên thế giới và Việt Nam, quan niệm về kỳ thị, các nghiên cứu về kỳ thị NKT ở Việt Nam. (2) Nói về cách nghiên cứu với việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu là những NKT có khó khăn trong thực hiện chức năng nhìn, nghe, vận động, tự chăm sóc, trí tuệ, giao tiếp; nội dung nghiên cứu đề cập đến 4 trải nghiệm về mức độ khuyết tật, giáo dục và việc làm, chăm sóc y tế, và sự tham gia vào các hội nhóm, câu lạc bộ. (3) Nói cụ thể về kết quả kỳ thị liên quan đến các lĩnh vực như giáo dục, cơ hội việc làm, chăm sóc y tế, sức khỏe tinh thần. (4) Đưa ra các nhận định và khuyến nghị về mặt chính sách nhằm hạn chế tình trạng kỳ thị NKT.

(Isee, 2017) 7 Trong CTXH, khi thực hành với trẻ khuyết tật, nhân viên xã hội cần thiết phải dự kiến những tình huống khác nhau trong giai đoạn lập kế hoạch. Nhân viên xã hội luôn chú ý đến mức độ phát triển nhận thức, xã hội và cảm xúc và các chỉ số về tính dễ bị tổn thương của trẻ, phải đảm bảo (nếu có thể), các quan điểm, mong muốn và cảm xúc của cá nhân trẻ được tính đến. Chú ý rằng một số trẻ có thể phát triển các phương tiện giao tiếp của riêng mình, việc giải thích đòi hỏi kiến thức chuyên môn về trẻ. Nhân viên xã hội không được đưa ra giả định về việc trẻ khuyết tật không có khả năng đưa ra bằng chứng đáng tin cậy.

Khi lập kế hoạch phỏng vấn trẻ khuyết tật, nhân viên xã hội cần tính đến cách giao tiếp của trẻ. Thường sẽ thích hợp nếu có sự tham gia của các chuyên gia khác có kỹ năng với phương pháp giao tiếp cụ thể với từng dạng khuyết tật khác nhau. (Executive, 2011) Cha mẹ, người chăm sóc trẻ khuyết tật gặp một số khó khăn như trong bài viết Một số vấn đề trong chăm sóc trẻ khuyết tật “Problems of parents caring for children with disabilities” Dựa trên các phỏng vấn sâu với người chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong hai vùng của Ukraina (mẫu 60), nhóm các vấn đề cha mẹ có con khuyết tật phải đối mặt là (sự phân biệt đối xử, các vấn đề về y tế, sự không hoàn hảo về quy định hỗ trợ, các vấn đề thông tin, vấn đề về tiếp cận, các vấn đề về can thiệp/ trị liệu sớm, các vấn đề tâm lý, nguy cơ bị thể chế hóa, các vấn đề về tài chính và kinh tế. Các phỏng vấn sâu đã xác định vấn đề có thể cung cấp hướng dẫn ngắn gọn về CTXH với gia đình trong chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ khuyết tật.

(Maryna Lekholetova, Tetiana liakh, Nataliia Zaveryko, 2020) Nghiên cứu về CTXH với NKT Cuốn sách CTXH với NKT – Social work with disable people, xuất bản lần thứ 3 của tác giả Michael Oliver và Bob Sapey. Cuốn sách viết về các nội dung như sau: (1) CTXH và NKT: quan niệm cũ và mới, vai trò của các cơ quan cung cấp các dịch vụ CTXH, các dịch vụ CTXH cho NKT, các mô hình cá nhân, mô hình xã hội. (2) Suy nghĩ về NKT với quan niệm chung về NKT, định nghĩa chuyên môn hiện nay về NKT, các định nghĩa chức năng NKT, tự định nghĩa; (3) Các nguyên nhân của tàn tật và tạo ra khuyết tật: phòng ngừa, kiến thức về y học và nhiệm vụ của CTXH, khung can thiệp, đánh giá; (4) khuyết tật trong gia đình gồm trẻ khuyết tật, lạm dụng trẻ khuyết tật, lớn lên với khuyết tật: tạo mối quan hệ, tình dục, cha mẹ, người lớn tuổi, chăm sóc và khuyết tật. (5) Sống với NKT có nội dung chăm sóc, cư trú, lựa chọn chăm sóc đa 8 dạng với sống độc lập, CTXH, mô hình xã hội và sống độc lập.

(6) Pháp luật liên quan đến NKT về quyền của NKT, giáo dục, việc làm, quyền an sinh. (7) Kết luận và liên quan đến thực hành CTXH. (Michael Oliver & Bob Sapey, 2003) Bộ tài liệu Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng – CBR do tổ chức Sức khỏe thế giới biên soạn vào năm 2010 với mục tiêu hướng đến sự hòa nhập NKT dựa vào cộng đồng, tài liệu gồm 7 hợp phần là (1) Phục hồi chức năng; (2) NKT; (3) Các dịch vụ sức khỏe cộng đồng; (4) Chính sách y tế; (5) Quyền con người; (6) Công bằng xã hội; (7) Sự tham gia của cộng đồng. Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng với mục đích đáp ứng đa dạng các nhu cầu của người khuyết tật, đảm bảo sự tham gia và hòa nhập trong xã hội và nâng cao chất lượng cho NKT.

Tài liệu còn giúp cho NKT và gia đình được tiếp cận các lợi ích về mặt y tế, giáo dục, sinh kế và các khía cạnh xã hội khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ