Mở đầu; Kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo; Phụ lục. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC TƢ TƢỞNG CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH 1. Lý luận về công tác tƣ tƣởng 1. Khái niệm Công tác tư tưởng Thuật ngữ tư tưởng có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa là hình tượng.
Đến nay có nhiều định nghĩa tư tưởng khác nhau: Từ điển Triết học định nghĩa: “Tư tưởng là phản ánh của hiện thực trong ý thức, là biểu hiện của sự quan hệ của con người đối với thế giới xung quanh”[64, tr. Từ điển Tiếng Việt thì định nghĩa: “Tư tưởng là những quan điểm, ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội”[65, tr. Trong mục Tìm hiểu khái niệm của tạp chí Cộng sản (số 1, năm 1993) cho rằng: “Tư tưởng là những suy nghĩ, ý niệm về các sự vật, hiện tượng được phản ánh trong ý thức, là biểu hiện của các quan hệ của con người đối với thế giới xung quanh. Tư tưởng do chế độ xã hội, điều kiện sinh hoạt vật chất của con người quyết định.
Thực chất và nguồn gốc của tư tưởng ở trong cơ sở kinh tế, trong điều kiện sinh hoạt vật chất của các giai cấp trong xã hội. Tư tưởng mang tính lịch sử. Tư tưởng chỉ sự suy nghĩ của con người nhưng phải ở trình độ ít nhiều khái quát về thế giới, về xã hội, về bản thân con người. Tư tưởng phải được thể hiện bằng ngôn ngữ để lưu truyền trong xã hội.Mác cho rằng, ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng.
Khi xã hội xuất hiện giai cấp, tư tưởng gắn liền với giai cấp và bảo vệ lợi ích giai cấp. Các nhà tư tưởng thường bảo vệ lợi ích giai cấp mình dưới hình thức lý tưởng hóa nó, gắn cho giai cấp mình sứ mệnh đại diện chân chính cho toàn xã hội và do đó cho rằng, lợi ích được bảo vệ cũng là lợi ích chung của toàn xã hội. Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, Mác – Ăng ghen viết: Một giai cấp mới thay thế cho giai cấp thống trị trước mình, muốn thực hiện được mục đích, đều nhất thiết phải 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biểu hiện được lợi ích của bản thân mình thành lợi ích chung của mọi thành viên trong xã hội hay nói một cách trừu tượng: Phải gắn cho những tư tưởng của bản thân mình thành một hình thức phổ biến, phải biểu hiện những tư tưởng đó thành những tư tưởng hợp lí, duy nhất có giá trị phổ biến”[48, tr. Trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp vô sản, đấu tranh tư tưởng góp phần quan trọng giúp giai cấp vô sản giành chính quyền.
Sau khi có chính quyền, đấu tranh tư tưởng vẫn tiếp tục để chống các tàn dư tư tưởng xã hội cũ, những khuynh hướng tư tưởng lệch lạc và tư tưởng thù địch, phản động để làm cho ý thức XHCN chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống tinh thần xã hội. Qua đó, có thể hiểu: Tư tưởng là sự phản ánh của hiện thực trong ý thức, biểu thị những lợi ích ít nhiều có tính phổ biến của con người, của xã hội. Trong lịch sử, các hoạt động tư tưởng do giai cấp thống trị thực hiện thường chi phối các lĩnh vực hoạt động khác của đời sống xã hội nhằm tác động vào ý thức xã hội. Mọi chính đảng, mọi nhà nước đều tiến hành CTTT, coi đó là hoạt động quan trọng của mình.
Do đó họ sử dụng mọi thành quả trí tuệ, văn hóa và công nghệ tiên tiến phục vụ công tác này. Dưới góc độ quá trình hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng của các giai cấp trong lịch sử, CTTT được hiểu với nghĩa rộng: là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng. 11] Theo tác giả Đào Duy Tùng: CTTT là một bộ phận cấu thành nên toàn bộ hoạt động cách mạng của Đảng, nó có nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhằm nâng cáo tính tự giác, chủ động sáng tạo của họ, trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị cụ thể do Đảng đề ra, góp phần vào việc hình thành đường lối, chính sách của Đảng, góp phần quan trọng vào xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và hình thành thượng tầng kiến trúc về mặt hình thái ý thức [59, tr. Theo tác giả Ngô Huy Tiếp, CTTT là hoạt động lãnh đạo quan trọng hàng đầu của Đảng trong việc: Phát triển hệ tư tưởng của Đảng; nghiên cứu lý luận t ng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kết thực tiễn, góp phần hình thành quan điểm, đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước nhằm hình thành thế giới quan khoa học cho cán bộ đảng viên và các tầng lớp nhân dân, tạo sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận tư tưởng giữa Đảng với nhân dân; c vũ động viên tinh thần sáng tạo cách mạng của nhân dân thực hiện thắng lợi đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đấu tranh chống các thế lực thù địch trên mặt trận tư tưởng; góp phần xây dựng nền văn hóa mới, con người xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh tươi đẹp của đất nước, con người Việt Nam, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra cộng đồng quốc tế [58, tr.
Tuy cách diễn đạt có phần quá chi tiết, nhưng định nghĩa này đã phản ánh khá toàn diện CTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay, và cho thấy CTTT của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là hết sức quan trọng, rộng lớn trên nhiều mặt. Tác giả Phạm Tất Thắng định nghĩa: CTTT là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm xây dựng, xác lập, phát triển và hoàn thiện hệ tư tưởng, là quá trình ph biến, truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, định hướng các giá trị, tạo niềm tin để thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng [56, tr. Định nghĩa này ngắn gọn, có tính khái quát cao và nêu được đặc trưng vai trò của CTTT. Theo giáo trình công tác tư tưởng đã định nghĩa CTTT dưới chủ nghĩa xã hội là hoạt động có mục đích của giai cấp công nhân – thông qua Đảng và Nhà nước và các t chức chính trị nhằm bảo vệ, phát triển và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, xây dựng hình thức xã hội chủ nghĩa, hình thành niềm tin khoa học, thúc đẩy quần chúng tham gia vào sự nghiệp đ i mới đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội [26, tr.
Trên cơ sở các định nghĩa trên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả quan niệm : CTTT là hoạt động có mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và các đoàn thể chính trị - xã hội nhằm phát triển, truyền bá hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, biến hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa thành hệ tư tưởng chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội, động viên, cổ vũ tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hệ thống các yếu tố, các bộ phận cấu thành của CTTT Khái quát các quan điểm lý thuyết về CTTT hiện nay [xem 20, 26, 27, 58, 61], có thể thấy CTTT được cấu thành bởi các yếu tố, bộ phận: - Các yếu tố của hoạt động tư tưởng CTTT là hoạt động xã hội đặc thù và hoạt động này mang tính quá trình. Khi xem xét CTTT như một hoạt động thì hoạt động này bao giờ cũng do một chủ thể tiến hành và tác động đến một đối tượng, một khách thể nhất định nhằm đạt được mục đích đặt ra.
Muốn đạt tới mục đích, hoạt động đó phải có nội dung và được thực hiện bằng các phương pháp, phương tiện và hình thức nhất định. Đồng thời, sau một chu trình tác động, hoạt động phải đạt tới một hiệu quả nào đó. Vì vậy, CTTT, sau khi xem xét như một hệ thống hoạt động, bao gồm những yếu tố cơ bản sau: Chủ thể, khách thể, đối tượng, mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức, hiệu quả. - Các bộ phận cấu thành (hay các hình thái) của CTTT Là quá trình liên tục gồm nhiều khâu, các bộ phận kế tiếp nhau, CTTT bao gồm ba quá trình cơ bản: quá trình sáng tạo hệ tư tưởng và vận dụng hệ tư tưởng để đề ra đường lối, chính sách; quá trình truyền bá hệ tư tưởng, đường lối, chính sách, (tái sản xuất hệ tư tưởng); quá trình biến hệ tư tưởng, đường lối, chính sách thành hiện thực ( vật chất hóa hệ tư tưởng).
Ba quá trình này được V.Lênin gọi một cách tương ứng là: công tác lý luận, công tác tuyên truyền, công tác c động. Cũng có thể gọi đó là ba bộ phận (các hình thái) hợp thành CTTT. Các hình thái CTTT liên hệ nội tại với nhau, tác động biện chứng lẫn nhau như những quá trình bộ phận của cùng một t ng thể hoạt động tư tưởng. Tuy nhiên, từng hình thái có tình độc lập tương đối, có nội dung, đặc điểm khác nhau: * Công tác lý luận + Công tác lý luận là một bộ phận của CTTT hướng vào việc nghiên cứu, phát triển sáng tạo hệ tư tưởng của giai cấp lãnh đạo cách mạng, nghiên cứu và t ng kết thực tiễn cách mạng nhằm xây dựng hệ thống quan điểm lý luận và cơ sở lý luận cho việc hoạch định đường lối, chính sách, các quyết định của Đảng và Nhà nước, đấu tranh, phê phán các trào lưu tư tưởng sai trái, thù địch.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Công tác lý luận tương ứng với quá trình sáng tạo hệ tư tưởng và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Nó không bao hàm công tác giáo dục lý luận. Bởi lẽ, công tác giáo dục lý luận thuộc quá trình truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chính sách. Nó là một mặt của công tác tuyên truyền, thuộc nội hàm khái niệm tuyên truyền.
Như vậy, công tác lý luận đồng nghĩa với công tác nghiên cứu lý luận.