CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm tiền lương Tiền lương là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng đối với người lao động, vì vậy mà vấn đề này cũng được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm và đi sâu phân tích dựa trên nhiều khía cạnh xong mỗi tác giả lại đưa ra những khái niệm khác nhau dựa vào định hướng nghiên cứu của mình. Theo Khoản 1, Điều 90, Bộ luật lao động 2019: “Tiền lương được quy định là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”.
Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu. Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau. [7] Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quy định: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền mặt và được ấn định bằng thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng lời nói cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hay sẽ phải làm”.[8] Theo triết học Mác Lênin: “Tiền lương là một số tiền mà người lao động nhận được sau một thời gian làm việc; Tiền lương tính theo thời gian là lương được trả căn cứ vào thời gian làm việc của người lao động (có tính đến trình độ và cường độ của người lao động); Tiền lương tính theo sản phẩm là tiền lương được trả căn cứ vào số lượng, chất lượng sản phẩm mà người lao động làm ra”.TS Lê Thanh Hà trong bài luận văn “Tiền lương, thu nhập của giảng viên một số trường đại học công lập khối kinh tế - xã hội ở Hà Nội”: Hiện 9 nay, có những cách hiểu khác nhau về tiền lương. Tuy nhiên, có thể khái quát tiền lương trong nền kinh tế thị trường là giá cả sức lao động được xác định dựa trên sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, mối quan hệ cung cầu trên thị trường lao động.
[10] Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung dựa trên chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất và kinh tế nhà nước chiếm ưu thế tuyệt đối, hoạt động quản lý tiền lương bị chi phối bởi tính kế hoạch hóa của cơ chế quản lý. Theo mô hình đó, tiền lương được định nghĩa “là một phần thu nhập quốc dân, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ, được Nhà nước phân phối có kế hoạch cho công nhân, viên chức phù hợp với số lượng và chất lượng lao động mà mỗi người đã cống hiến. Tiền lương phản ánh việc trả công cho người lao động dựa trên nguyên tắc phân phối lao động nhằm tái sản xuất sức lao động.” [11] Theo tác giả Phạm Thế Hùng trong bài luận văn “Hoàn thiện công tác quản lý tiền lương trong ngành Điện lực Việt Nam”: Tiền lương là một phạm trù kinh tế xã hội, xuất hiện đồng thời với các quan hệ thuê và sử dụng lao động. Đây là loại quan hệ mà quyền sở hữu tách rời quyền sử dụng; người có sức lao động lại không thể tự tổ chức quá trình lao động cho mình, biến quyền sở hữu trực tiếp đó thành vật phẩm tiêu dùng.
Tác giả giải thích thêm, dù dưới góc độ nào, tiền công, tiền lương luôn là giá của những giờ lao động mà người bán sức lao động phải thực hiện theo yêu cầu của người mua (thuê) sức lao động.[12] Theo bộ luật lao động 2019 “Tiền lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, tiền lương danh nghĩa được quy định là tiền lương được biểu hiện bằng tiền tệ mà người lao động nhận được từ kết quả lao động của mình, phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động và hiệu quả làm việc, trình độ, thâm niên.của người lao động.” [7] Theo quan điểm của các nhà kinh tế học phương Tây: “ Tiền lương là giá trị sức lao động được hình thành trên thị trường lao động nó không chỉ liên quan 10 trực tiếp tới sự tồn tại của người làm công mà còn cả với sự thành công hay sự thất bại của người sử dụng lao động. Tranh chấp về tiền lương trong các cuộc tranh chấp lao động giữa người làm công và người sử dụng lao động trong hai thế kỷ qua dưới hình thức này hay hình thức khác đều chiếm tỷ trọng rất lớn.” [15] Có thể thấy, khái niệm tiền lương đã nhận được rất nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu bởi tầm quan trọng và sức ảnh hưởng to lớn của nó. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả cũng đưa ra khái niệm về tiền lương ngày nay: Tiền lương là khoản tiền thanh toán mà người lao động nhận được từ một tổ chức, doanh nghiệp mà họ đã làm việc việc trong khoảng thời gian nhất định; khoản tiền đó đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hỗ trợ người lao động có một cuộc sống ổn định và đáp ứng các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của họ.
Hiện nay, vấn đề tiền lương vẫn luôn là chủ đề nóng hổi được các chuyên gia khuyến khích đi sâu khám phá, đặc biệt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay, sự biến động trong cơ cấu tiền lương vẫn luôn là mối trăn trở của người lao động, chủ doanh nghiệp - những con người vẫn đang nghiên cứu, tính toán cơ số lương phù hợp với sức lao động và nhu cầu thực tiễn của con người. Bên cạnh đó, sự chênh lệch giữa sức lao động và số lương người lao động nhận được vẫn luôn là vấn đề nhức nhối cần được khai phá. Dù ở bất cứ giai đoạn nào, tiền lương vẫn giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với người lao động bởi đây là công cụ quản lý góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp.2 Khái niệm tiền lương trong doanh nghiệp. Từ những khái niệm về tiền lương được nghiên cứu từ rất nhiều khía cạnh nêu trên, nhóm tác giả muốn đi sâu phân tích khái niệm tiền lương trong môi trường cụ thể - môi trường doanh nghiệp.
Vậy tiền lương trong doanh nghiệp là gì? Có thể hiểu, tiền lương trong doanh nghiệp là số tiền mà mỗi nhân viên được trả để thúc đẩy họ làm việc và cống hiến cho doanh nghiệp đó. Đây được coi là một phần vô cùng quan trọng trong hệ thống thanh toán của mỗi tổ chức và tiền lương trong mỗi doanh nghiệp thường được xác định dựa trên nhiều yếu tố như: Chức vụ, kinh nghiệm, hiệu suất làm việc, chuyên cần. 11 Công tác tiền lương trong doanh nghiệp là một phần quan trọng của quản trị nguồn nhân lực, là việc xây dựng chính sách tiền lương và thực hiện chính sách tại doanh nghiệp đó, liên quan trực tiếp đến các hoạt động quản lý và thực hiện chính sách tiền lương cho nhân viên. Các hoạt động này bao gồm việc thiết kế, triển khai và duy trì các hệ thống trả lương nhằm đảm bảo sự công bằng, hợp lý và động viên người lao động.
Công tác tiền lương trong mỗi doanh nghiệp là khác nhau bởi sự khác biệt về môi trường làm việc, tính chất công việc, thị trường lao động. Do đó mà số tiền lương mỗi người lao động nhận được trên thực tế cũng được kết hợp từ nhiều yếu tố: Thứ nhất là lương cơ bản, đây chính là số tiền cố định mà một nhân viên nhận được cho mỗi chu kỳ lương, thường là hàng tháng hoặc hàng tuần. Lương cơ bản mà mỗi nhân viên nhận được là không giống nhau, bởi những nhân viên có kinh nhiệm và kỹ năng tốt thường có mức lương cơ bản cao hơn. Trình độ học vấn và bằng cấp cũng là yếu tố vô cùng quan trọng giúp công nhân viên trong mỗi doanh nghiệp có cơ hội nâng lương trong từng giai đoạn.Có thể thấy, lương cơ bản vô cùng quan trọng trong gói thanh toán của mỗi nhân viên và thường làm cơ sở để tính các khoản thưởng, phụ cấp và các khoản phúc lợi khác trong doanh nghiệp.
Thứ hai đó là thưởng và phụ cấp; căn cứ vào quy chế lương thưởng, chế độ cho cán bộ, công nhân viên quy định “Việc trả lương, thưởng, phụ cấp cho từng cá nhân, từng bộ phận, nhằm khuyến khích người lao động làm việc, hoàn thành tốt công việc theo chức danh và đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty. Đảm bảo đời sống cho cán bộ, công nhân viên trong Công ty yên tâm công tác, đáp ứng được mức sống cơ bản của cán bộ, công nhân viên.” [13] Thứ ba đó là các khoản phúc lợi, bên cạnh tiền lương các doanh nghiệp cung cấp các khoản phúc lợi khác như BHYT, BHXH, ngày lễ tế, trợ cấp hỗ trợ học tập, nghiên cứu. Căn cứ khoản 4 điều 3 Thông tư 25/2018/TT-BTC “Khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động như: chi đám hiếu, hủ của bản thân và gia đình người lao động; chi nghỉ mát, chi hỗ trợ Điều trị; chi hỗ 12 trợ bổ sung kiến thức học tập tại tại các cơ sở đào tạo; chi hỗ trợ người lao động bị ảnh hưởng bởi thiên tai, địch họa, tai nạn, ốm đau; chi khen thưởng con của người lao động có thành tích tốt trong học tập; chi hỗ trợ chi phí ngày lễ, tết cho người lao động; cho bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm tự nguyện khác cho người lao động. Tổng chi phí phúc lợi không vượt quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp.” [14] Nhờ vào tiền lương và các khoản phụ cấp lương mà người lao động có thể đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, tái sản xuất sức lao động.
Chính vì vậy mà tiền lương cũng trở thành một yếu tố tiên quyết, đóng vai trò quyết định trong việc thu hút và giữ chân những nhân sự tài năng, cũng như tạo động lực giúp họ làm việc hiệu quả.