CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về tiền lương trong doanh nghiệp: 1.1 Một số khái niệm về tiền lương trong doanh nghiệp Trong thực tế khái niệm tiền lương rất đa dạng và phong phú. Ở các quốc gia khác nhau và trong các thời kỳ khác nhau thì người ta đưa ra các khái niệm tương đối khác nhau về tiền lương. Ở Nhật Bản tiền lương là nhằm chỉ thù lao lao động mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động. Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, “tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động lực”.
[16] Ở Việt Nam : Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung: tiền lương là một phần thu nhập quốc dân biểu hiện dưới hình thức tiền tệ được Nhà nước phân phối một cách có kế hoạch cho người lao động theo số lượng và chất lượng lao động mà họ đã cống hiến. Tiền lương vừa được trả bằng tiền vừa được trả bằng hiện vật, bằng dịch vụ thông qua các chế độ về nhà ở, y tế, giáo dục và các khoản phúc lợi không mất tiền hoặc mất tiền nhưng không đáng kể. Theo quan điểm này thì: 15 Nguồn trả lương lấy từ thu nhập quốc dân (GDP) và người trả lương là Nhà nước. Sức lao động không phải là hàng hoá nên tiền lương không phản ánh đúng giá trị sức lao động.
Do tiền lương được lấy từ thu nhập quốc dân mà trong thời kỳ này Nhà nước ta còn nghèo lại phải chi tiêu nhiều, thu nhập lại thấp nên tiền lương cũng rất thấp. Mặc dù ngân sách nhà nước bị thâm hụt nặng nhưng tiền lương vẫn không đủ để tái sản xuất sức lao động. Do đó chế độ tiền lương này đã dẫn đến một thực trạng phổ biến đó là: ở hầu hết các doanh nghiệp, người lao động không mấy tha thiết với công việc, không quan tâm đến việc nâng cao trình độ chuyên môn, tính chủ động của người lao động bị hạn chế và lợi ích thiết thực của người lao động bị xem nhẹ. Từ đó tiêu cực ngày càng gia tăng, hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng bị giảm sút.
Mặt khác do không gắn lợi ích với hiệu quả mà người lao động tạo ra vì vậy trên thực tế tiền lương không đảm bảo nguyên tắc “phân phối theo lao động”. Trong nền kinh tế thị trường: tiền lương là giá cả dịch vụ lao động được hình thành thông qua sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động, phù hợp với quan hệ cung cầu dịch vụ lao động trong nền kinh tế thị trường, tương ứng với năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Tiền lương là một bộ phận của thu nhập quốc dân, là giá trị mới sáng tạo ra mà người sử dụng lao động trả cho người lao động phù hợp với việc sử dụng và phân bổ các nguồn lực sản xuất. Tiền lương cũng là một biểu hiệu của giá cả, giá cả trên thị trường dịch vụ lao động hay thị trường lao động.
Theo quan điểm này thì tiền lương đã được tiền tệ hoá, nó không còn mang nặng tính bao cấp, không còn mang tính bình quân, nhờ đó nó đã khắc 16 phục được nhược điểm của tiền lương trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung. Giờ đây tiền lương đã trở thành đòn bẩy kích thích người lao động hăng say lao động và học tập nâng cao trình độ lao động. Ngoài ra, các nhà kinh tế học phương Tây còn đưa ra một số khái niệm cụ thể thể hơn về tiền lương như: Tiền lương danh nghĩa: “được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc vào năng suất lao động, hiệu quả làm việc của người lao động lực”.
[10] Trên thực tế mọi mức lương trả cho người lao động đều là tiền lương danh nghĩa. Song bản thân tiền lương danh nghĩa lại không phản ánh được đầy đủ về mức trả công lao động thực tế cho người lao động. Lợi ích mà người lao động nhận được không chỉ phụ thuộc vào tiền lương danh nghĩa, mà nó còn phụ thuộc vào giá cả của hàng hoá dịch vụ ở các vùng khác nhau vào những thời điểm khác nhau, thuế thu nhập và các khoản phải nộp khác theo quy định. Tiền lương thực tế: “được hiểu là số lượng các loại hàng hoá tiêu dùng và các loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền lương danh nghĩa của họ”.
[10] Như vậy tiền lương thực tế phụ thuộc vào số tiền lương danh nghĩa mà người lao động nhận được và giá cả các loại hàng hoá tiêu thụ và dịch vụ tiêu dùng cần thiết mà họ muốn và có thể mua được. Mối quan hệ của tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế thể hiện ở công thức sau: ITLTT = Itldn/Igc 17 Trong đó: Itltt : Chỉ số tiền lương thực tế Itldn : Chỉ số tiền lương danh nghĩa Igc : chỉ số giá cả. [10] Như vậy, nếu tiền lương danh nghĩa tăng lên nhưng tăng chậm hơn so với mức tăng của giá cả hàng hoá thì tiền lương thực tế lại giảm xuống. Trong xã hội, tiền lương thực tế mới là mục đích lao động trực tiếp của người lao động hưởng lương và đó cũng là đối tượng quản lý trực tiếp trong các chính sách về thu nhập tiền lương và đời sống.2 Lý thuyết về tiền lương hiệu quả trong doanh nghiệp Theo Giáo sư kinh tế Trường Đại Học Tổng Hợp London (Anh) David Begg thì khái niệm “tiền lương hiệu quả được Ông nhận định là mức lương cao làm tăng năng suất thông qua hiệu ứng khuyến khích của nó”.
[14] Để lập luận cho triết lý về tiền lương hiệu quả của mình, trong cuốn sách đã xuất bản Kinh tế học, David Begg cho rằng: “Trên thực tế, các doanh nghiệp luôn phải đối mặt với hai vấn đề lớn: Đó là việc khó nói được liệu một người xin việc có phải là một lao động có năng suất hay không (một vấn đề của khả năng bẩm sinh) và việc khó giám sát được liệu các lao động có lười biếng sau khi sẽ được thuê hay không. Với chi phí cho trước của việc đánh giá người lao động mới, và chi phí tiếp theo để giám sát hoạt động của họ trong công việc, chính sách nào là tốt nhất cho Doanh nghiệp? Lý thuyết tiền lương hiệu quả nói rằng sẽ có lợi cho Doanh nghiệp khi trả cho những người lao động đang làm một mức lương trên mức lương chuyển việc của họ”. [14] 18 Thứ nhất, giả định những người lao động sẽ từ bỏ công việc của họ nếu họ tìm được một công việc tốt hơn ở những nơi khác. Nếu Doanh nghiệp chỉ trả một mức lương là trung bình cho cả những lao động năng suất và lao động không năng suất, những người lao động có năng suất sẽ tìm đến những công việc tốt hơn ở nơi khác và sẽ rời bỏ Doanh nghiệp.
Khi đó, Doanh nghiệp chỉ còn lại những lao động chất lượng kém. Như vậy, Doanh nghiệp chấp nhận trả một mức lương cao sẽ giúp duy trì lao động chất lượng cao, ổn định. Thứ hai, khi người lao động lười biếng trong công việc, họ có thể bị bắt gặp và bị sa thải. Mức phạt của Doanh nghiệp khi bắt gặp người lao động lười biếng như thế nào? Đó là việc đánh giá sự chênh lệch giữa mức lương hiện tại và những gì người lao động nhận được từ trợ cấp thất nghiệp hoặc từ công việc sau đó, tiền lương hiện tại càng cao, mức phạt càng lớn và tiền lương hiện tại ở mức vừa phải thì mức phạt cũng chỉ nên ở mức độ vừa phải.
Chính vì vậy, để tăng mức phạt và giảm sự lười biếng, Doanh nghiệp sẽ trả cho những người lao động hiện tại mức lương cao hơn mức trung bình cần thiết để họ sẵn sàng lao động ở mức độ cao. Một lần nữa, điều này ngụ ý rằng một số lao động có thể thất nghiệp không tự nguyện. Họ có thể sẵn sàng làm việc ở mức lương bằng hoặc thấp hơn tiền lương trả cho những lao động hiện tại nhưng có ít cơ hội thực tế để đảm bảo có một công việc ở mức lương đó. Tóm lại, thỏa thuận tiền lương tối thiểu, sức mạnh công đoàn, tính kinh tế của quy mô, sự khác biệt giữa người bên trong và bên ngoài Doanh nghiệp và mức lương hiệu quả là những lý giải có thể của sự thiếu linh hoạt của tiền lương trong ngắn hạn để duy trì thị trường lao động ở thế cân bằng.3 Vai trò và bản chất của tiền lương i.
Vai trò của tiền lương: 19 - Đối với người lao động Tiền lương là sự phản ánh chi phí để tái sản xuất sức lao động mà đơn vị sử dụng dịch vụ lao động phải trả cho người lao động. Nó bao hàm trình độ chuyên môn, tay nghề, trình độ văn hoá mà biểu hiện trực tiếp của nó là năng suất, chất lượng và hiệu quả của lao động. Tiền lương đồng thời là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, đảm bảo cho bản thân và gia đình họ một cuộc sống ổn định. Với ý nghĩa này, tiền lương vừa tạo khả năng tái sản xuất sức lao động sau một chu kỳ lao động lại vừa là động lực thúc đẩy người lao động làm việc tốt hơn.
- Đối với doanh nghiệp Tiền lương là một loại chi phí mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng đều phải tính đến. Để thu được lợi nhuận cao thì doanh nghiệp phải tính đến số lượng, chi phí nhân công sao cho phù hợp với yêu cầu của sản xuất và khả năng đáp ứng của doanh nghiệp, bởi tiền lương không chỉ là một yếu tố của chi phí mà còn là một yếu tố cạnh tranh trên thị trường. Tiền lương cao sẽ thu hút lao động có trình độ chuyên môn tay nghề và tạo sự gắn bó giữa doanh nghiệp với người lao động. Đó là lợi ích lâu dài mà các doanh nghiệp luôn luôn hướng tới.
- Đối với nền kinh tế Tiền lương là một yếu tố quan trọng đóng góp vào ngân sách của quốc gia, đồng thời cũng tạo ra lợi thế cạnh tranh cho những nước có giá nhân công rẻ. Bên cạnh đó, tiền lương góp phần phân bố lại lao động giữa các ngành, các khu vực của nền kinh tế, thúc đẩy phân công lao động xã hội.