phần mở đầu, kết luận, phần mục lục, phụ lục, luận văn có nội dung chính chia ra làm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác phục vụ ngƣời dùng tin tại thƣ viện Trƣờng Đại học Quảng Bình. - Chƣơng 2: Thực trạng công tác phục vụ ngƣời dùng tin tại thƣ viện Trƣờng Đại học Quảng Bình. - Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng công tác phục vụ ngƣời dùng tin tại thƣ viện Trƣờng Đại học Quảng Bình. Trần Thị Lụa 14 Khóa 2011-2013 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Khoa học Thƣ viện NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ NGƢỜI DÙNG TIN TẠI THƢ VIỆN TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH 1.
Khái quát về công tác phục vụ ngƣời dùng tin 1. Ngƣời dùng tin và vai trò của ngƣời dùng tin 1. Ngƣời dùng tin Nghiên cứu NDT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ cơ quan thông tin – thƣ viện nào với mục tiêu là không ngừng nâng cao khả năng thỏa mãn nhu cầu thông tin của họ. NDT là ngƣời sử dụng thông tin để thỏa mãn nhu cầu của mình.
NDT trƣớc hết phải là ngƣời có nhu cầu tin, là chủ thể của nhu cầu tin. Ngƣời dùng tin là yếu tố cơ bản của mọi Hệ thống thông tin, đó là đối tƣợng phục vụ của công tác TT tƣ liệu. NDT vừa là khách hàng của các DV TT, đồng thời họ cũng là ngƣời sản sinh ra TT mới. Trên cơ sở hoạt động của NDT, có thể chia thành ba nhóm NDT sau: - NDT là cán bộ quản lý, lãnh đạo.
- NDT là cán bộ nghiên cứu khoa học. - NDT là các nhà sản xuất kinh doanh Mỗi nhóm NDT khác nhau có những đặc điểm về nhu cầu tin không giống nhau: Nhóm cán bộ quản lý: Nhu cầu tin vừa rộng vừa sâu, họ cần những TT sâu về lĩnh vực quản lý nhƣng cần cả những TT về đối tƣợng bị quản lý và các loại môi trƣờng xung quanh. Họ cần những TT mang tính logic cao, kịp thời, cô đọng, súc tích và chính xác. Nhóm cán bộ khoa học: Nhu cầu tin cao và bền vững: thực chất hoạt động khoa học là quá trình xử lý TT.
Chất lƣợng nghiên cứu khoa học phụ thuộc vào chất lƣợng TT thu nhận đƣợc, đó là: khách quan, chính xác; số Trần Thị Lụa 15 Khóa 2011-2013 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Khoa học Thƣ viện lƣợng TT: càng nhiều TT càng càng chính xác. Nhóm đối tƣợng này cần những TT mang tính tổng hợp về các lĩnh vực liên quan đến đối tƣợng nghiên cứu, tính chuyên sâu tập trung vào các khía cạnh của đối tƣợng nghiên cứu, tính logic, hệ thống và tính giá trị. Nhóm NDT là các nhà sản xuất kinh doanh: Nhu cầu tin đa dạng về nhiều lĩnh vực, nhiều loại hình tài liệu do hoạt động sống đa dạng, môi trƣờng hoạt động luôn biến đổi, rộng lớn. Họ cần những TT hữu ích phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của họ.
Vai trò của ngƣời dùng tin NDT giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống TT, họ nhƣ là yếu tố tƣơng tác hai chiều với các đơn vị TT. NDT là yếu tố thiết yếu của một trung tâm TT. Họ là yếu tố năng động trong hoạt động của một trung tâm TT. Vai trò quan trọng của NDT thể hiện rõ ở những mặt sau: - NDT luôn là cơ sở để định hƣớng các hoạt động của đơn vị thông tin.
- NDT tham gia vào hầu hết các công đoạn của dây chuyền TT. Họ biết các nguồn TT và có thể thông báo hoặc đánh giá các nguồn TT đó. Chính sách bổ sung phụ thuộc vào yêu cầu của NDT. - NDT cũng tham gia sản sinh ra TT mới, tham gia vào các dòng TT bằng tiếp xúc cá nhân.
Khái niệm về công tác phục vụ ngƣời dùng tin Công tác phục vụ NDT nghiên cứu lý luận và phƣơng thức phục vụ NDT, phƣơng thức tổ chức công tác với NDT trong TV, phƣơng pháp nghiên cứu nhu cầu và hứng thú đọc của NDT, các phƣơng pháp tuyên truyền và hƣớng dẫn đọc sách. Phục vụ NDT là hoạt động của TV nhằm tuyên truyền và đƣa ra phục vụ những dạng tài liệu hoặc bản sao của chúng, giúp đỡ ngƣời tới TV trong việc lựa chọn, sử dụng tài liệu đó. Công tác này đƣợc xây dựng trên cơ sở kết Trần Thị Lụa 16 Khóa 2011-2013 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Khoa học Thƣ viện hợp các quá trình liên quan chặt chẽ với nhau của việc phục vụ thƣ viện, phục vụ thông tin tra cứu. Công tác phục vụ NDT là việc tổ chức phục vụ tài liệu cho NDT, là một hoạt động của TV nhằm thúc đẩy, phát triển và thoả mãn nhu cầu, hứng thú đọc tài liệu thông qua việc tuyên truyền, hƣớng dẫn và cung cấp tài liệu dƣới nhiều hình thức.
Công tác phục vụ NDT bao gồm các hình thức tổ chức và phƣơng pháp phục vụ ngƣời đọc ở trong và ngoài TV. Đồng thời công tác phục vụ NDT còn là thƣớc đo hiệu quả luân chuyển tài liệu và tác dụng của nó trong đời sống xã hội. Vai trò của công tác phục vụ ngƣời dùng tin Nói đến tầm quan trọng của công tác phục vụ ngƣời dùng tin trong TV, Lênin từng nói “Đánh giá thƣ viện không phải thƣ viện đó có bao nhiêu sách quý hiếm, có trụ sở khang trang, tiện nghi hiện đại, mà chính là thƣ viện đó thu hút và phục vụ đƣợc bao nhiêu bạn đọc đến sử dụng thông tin”. Phục vụ NDT là khâu cuối cùng trong chu trình đƣờng đi của sách nhƣng là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt động của công tác TV.
Tất cả các khâu xử lý nghiệp vụ tài liệu trƣớc khi đƣa ra phục vụ bạn đọc sẽ đƣợc đánh giá một cách khách quan và chính xác nhất thông qua mức độ đáp ứng nhu cầu TT của bạn đọc. Vì vậy có thể nói, thông qua công tác này, TV có thể điều chỉnh chính sách bổ sung, chỉnh lý, hoàn thiện các khâu công tác nghiệp vụ theo hƣớng thỏa mãn ngày một tốt hơn nhu cầu bạn đọc. - Vai trò của công tác phục vụ ngƣời dùng tin trong quan hệ với toàn bộ hoạt động thƣ viện: Công tác phục vụ ngƣời dùng tin là khâu trung tâm, là khâu then chốt, cơ bản: Nó là khâu luôn trực tiếp với các đối tƣợng bạn đọc, quyết định hiệu quả hoạt động của hoạt động TV. Mục tiêu phấn đấu chung của công tác TV cũng là mục tiêu phấn đấu của công tác phục vụ bạn đọc.
Đó là sự tổ chức, giúp đỡ, hƣớng dẫn đọc, giúp đỡ TT cho ngƣời đọc. Trần Thị Lụa 17 Khóa 2011-2013 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Khoa học Thƣ viện Cho nên đây là khâu trung tâm. Công tác phục vụ NDT là khâu cuối cùng trong chu trình đƣờng đi của sách cũng nhƣ là khâu cuối cùng trong chu trình thực hiện nhu cầu ngƣời đọc. Nếu chúng ta xác nhận công tác TV là một mặt trận thì công tác phục vụ ngƣời đọc là công việc ở ngoài chiến trƣờng, công việc ở “tiền tuyến”.
Công việc này hết sức quan trọng, nó quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạt động của một TV. - Công tác phục vụ ngƣời dùng tin trong quan hệ chính với sách và ngƣời đọc: Công tác phục vụ ngƣời dùng tin đƣợc xem nhƣ chiếc cầu nối liền hai đối tƣợng trên với nhau, ngƣời dùng tin là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của TV, ngƣợc lại sách giúp con ngƣời nâng cao tầm hiểu biết, tri thức, thế giới quan của họ. - Công tác phục vụ ngƣời dùng tin trong quan hệ giữa thƣ viện và xã hội: Công tác phục vụ ngƣời dùng tin đƣợc ví nhƣ chiếc cầu nối liền sách và bạn đọc, nếu vai trò của cầu nối này đƣợc làm tốt thì TV sẽ nhận đƣợc sự tôn vinh của ngƣời đọc. Từ đó ý nghĩa xã hội của TV đƣợc nâng lên, thu hút bạn đọc ngày càng đông.
Nhƣ vậy TV tăng đƣợc vòng quay của sách, vai trò xã hội của TV đƣợc tăng cƣờng, làm cho việc đọc sách trong nhân dân trở thành thói quen, nếp sống, nhu cầu không thể thiếu. Nếu vòng quay của sách đƣợc tăng lên thì sách trên thực tế sẽ lớn hơn rất nhiều so với sách trên danh nghĩa, giảm số lƣợng sách chết, sách bị lãng quên. Trong tình hình đất nƣớc còn nghèo thì điều này đặc biệt quan trọng. - Xét trong quan hệ giữa từng công việc cụ thể của thƣ viện với công tác phục vụ ngƣời dùng tin: Công tác phục vụ ngƣời dùng tin là cơ sở giúp cơ quan thƣ viện kiểm tra, đánh giá các công việc khác.
Thƣ viện làm tốt công tác phục vụ NDT thì mới phát huy đƣợc tác dụng của các công việc khác. Mặt khác, công tác này có thể giúp TV trong vấn đề tuyên truyền, chọn lựa, trƣng bày, triển lãm các loại tài liệu, sản phẩm và dịch vụ TT. Trần Thị Lụa 18 Khóa 2011-2013 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Khoa học Thƣ viện - Vai trò của công tác ngƣời dùng tin về chính trị, xã hội: Làm tốt công tác phục vụ NDT, TV đã xã hội hóa các công tác của mình. Làm tốt công tác quan trọng này là biện pháp tích cực để thực hiện phƣơng châm, nguyên lý giáo dục của Đảng và nhà nƣớc ta: phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân, nâng cao dân trí, đào tạo nên những con ngƣời Việt Nam mới, đủ sức, đủ tài, đủ năng lực làm chủ.
Các yếu tố tác động đến công tác phục vụ ngƣời dùng tin 1. Vốn tài liệu “Tài liệu là vật thể trên đó ghi lại những TT dƣới dạng văn bản, âm thanh hoặc hình ảnh để lƣu truyền trong không gian và thời gian, đó là cái giá vật chất mang tri thức của nhân loại”. Vốn tài liệu TV là bộ sƣu tập có hệ thống các tài liệu phù hợp với chức năng, loại hình và đặc điểm của từng TV, nhằm phục vụ cho ngƣời đọc của chính TV hoặc các TV khác, đƣợc phản ánh toàn diện trong bộ máy tra cứu, cũng nhƣ để bảo quản lâu dài trong suốt thời gian đƣợc ngƣời đọc quan tâm. Tài liệu trong TV là cơ sở vật chất quan trọng và thiết yếu nhất.
Là bộ phận của di sản văn hoá dân tộc, chứa đựng những tri thức, kinh nghiệm của loài ngƣời đƣợc truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác.