phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương như sau: Chƣơng 1: Lý luận chung về công tác đào tạo nhân sự trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo nhân sự mới tại Công ty cổ phần Hoa Sao Chƣơng 3: Những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nhân sự mới tại Công ty cổ phần Hoa Sao 6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm nhân sự, đào tạo nhân sự và mục đích đào tạo 1. Khái niệm Nhân sự của doanh nghiệp là nguồn lực con người, là tập hợp những người lao động với những khả năng khác nhau, có vai trò khác nhau và được liên kết lại với nhau theo mục tiêu chung của doanh nghiệp. Người lao động sở hữu sức lao động bao gồm 2 bộ phận là thể lực và trí lực.
Thể lực là sức lực cơ bắp của con người tham gia vào quá trình lao động tạo ra sản phầm dịch vụ. Còn trí lực là toàn bộ trí tuệ của con người tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ. Đào tạo: Là tiến trình bao gồm những phương pháp được sử dụng nhằm tác động lên quá trình học tập để nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành (Cenzo & Robbins). Đào tạo là những hoạt động nhằm tăng kết quả công việc của nhân viên thông qua việc cung cấp cho họ sự thành thạo kỹ năng, hoặc kiến thức mới.
Đào tạo nhân sự là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong một khoảng thời gian nhất định nhằm hướng vào sự thay đổi hành vi và nghề nghiệp của người lao động. Mục đích Đào tạo nhân sự để sử dụng tối đa nguồn nhân lực hiện có và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức: đào tạo người lao động phù hợp với công việc và sử dụng có hiệu quả hơn. Đào tạo còn nhằm đáp ứng được yêu cầu công việc trong tổ chức (cả về hiện tại và trong tương lai). 7 Người lao động được đào tạo sẽ được hiểu biết hơn, thành thạo hơn đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ, đáp ứng được sự phát triển quy mô, đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế thị trường.
Tóm lại, người lao động sẽ có tính thích ứng cao trong doanh nghiệp. Người lao động không những có năng lực làm những công việc hiện tại mà còn đủ năng lực làm việc trong tương lai. Đáp ứng nhu cầu được học tập đối với người lao động. Đại bộ phận người lao động có nhu cầu được học tập và phát triển.
Do đó doanh nghiệp phải đáp ứng nhu cầu về công việc và nhu cầu về học tập của người lao động. Các hình thức đào tạo. Công tác đào tạo nhân sự được chia thành 2 hình thức chủ yếu là đào tạo trong công việc và đào tạo ngoài công việc. Đào tạo trong công việc Là các phương pháp đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, trong đó người học sẽ học được những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của những người lao động lành nghề hơn.
Phương pháp đào tạo trong công việc có thể chia ra thành hai phương pháp: - Kèm cặp tại chỗ: người lao động được dạy những kỹ năng thông qua công việc ngay tại nơi làm việc dưới sự hướng dẫn của lao động lành nghề. - Luân chuyển công việc: là hình thức đào tạo cho người lao động sau một khoảng thời gian nhất định sẽ được chuyển sang làm việc tại một vị trí khác với cương vị, nghề nghiệp khác. Đào tạo trong công việc có một số ưu điểm sau: - Đơn giản, dễ hiểu, người lao động nhanh chóng nắm được kỹ năng lao động. 8 - Ngay trong quá trình học tập, học viên dần tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất sản phẩm.
- Chi phí đào tạo thấp. - Doanh nghiệp sử dụng được người lao động giỏi làm thầy, sử dụng cơ sở vật chất và môi trường trong doanh nghiệp để học do đó tốn rất ít chi phí. Tuy nhiên, đào tạo trong công việc cũng bộc lộ nhiều hạn chế: - Không có kiến thức về lý luận một cách có hệ thống. - Không được đào tạo một cách bài bản, vì vừa học vừa làm, gặp vấn đề gì thầy giải thích cho biết cái đấy, không có trình tự học từ dễ đến khó, không hiểu sâu và hiểu được bản chất của vấn đề.
- Học viên luôn chịu sức ép trong công việc vừa học vừa làm nên không toàn tâm toàn ý vào học tập. - Học viên tiếp thu được cả ưu điểm và nhược điểm của người thầy. Đào tạo ngoài công việc Là phương pháp đào tạo trong đó người học được tách khỏi sự thực hiện các công việc thực tế. + Mở lớp tại doanh nghiệp: các lớp đào tạo do doanh nghiệp đứng ra tổ chức, dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có của tổ chức rồi mời giáo viên về dạy.
Chương trình đào tạo được chia làm hai phần. - Học tập lý thuyết: Thường được tiến hành một cách tập trung trên lớp do giáo viên giảng dạy (có thể là người trong doanh nghiệp, người quản lý, cán bộ lãnh đạo hoặc giáo viên mời từ bên ngoài). - Thực hành: học viên được đưa xuống thực tập tại các phân xưởng, dưới sự hướng dẫn của giáo viên hoặc của người lao động lành nghề. Ưu điểm: được học lý luận một cách có hệ thống, học lý thuyết kết hợp với thực hành, nhanh chóng nắm được các kỹ năng công việc, nhiều học viên cùng được học một lần, tiết kiệm được chi phí.
9 Nhược điểm: chỉ thích hợp với những lớp ngắn hạn, kỹ năng đơn giản. + Cử đi học tại các trường lớp chính quy: Người lao động được thoát ly khỏi công việc, để đến trường lớp học tập (các lớp, trường thuộc các ngành hoặc trường của trung ương). Mỗi bộ, mỗi ngành có một số trường chuyên môn đào tạo: công nhân kỹ thuật, cán bộ quản lý, trung cấp, cao đẳng, đại học… Ưu điểm: người lao động thoát ly khỏi công việc để đến trường lớp học tập, do đó có điều kiện thuận lợi nhất để học tập, được đào tạo một cách có hệ thống, bài bản. Nhược điểm: chi phí đào tạo cao, thời gian đào tạo dài.
- Ngoài ra còn các phương pháp đào tạo khác: + Người lao động tự đào tạo, học tập qua sách báo, qua nguồn thông tin đại chúng, kinh nghiệm thực tế… để nắm vững chuyên môn, công việc của mình. Đây là hình thức đào tạo đơn giản nhất, đỡ tốn kém cả chi phí vật chất lẫn thời gian. Song đòi hỏi người lao động phải có nghị lực, có lòng kiên nhẫn để hoàn thành kế hoạch học tập của mình. + Đào tạo thông qua các hình thức tổ chức hội thảo, thi thợ giỏi… + Đào tạo theo kiểu chương trình hoá với sự trợ giúp của máy tính.
Quy trình đào tạo (4 giai đoạn) 1. Xác định nhu cầu Xuất phát từ việc chi phí cho đào tạo lớn, thời gian đào tạo lâu nên ta phải xác định nhu cầu đào tạo cho chính xác như: có bao nhiêu người cần đào tạo, đào tạo cho những kỹ năng nào, thời gian bao lâu? Cụ thể, muốn xác định được nhu cầu đào tạo, ta phải căn cứ vào những kết quả phân tích sau: 10 - Phân tích nhu cầu về lao động của doanh nghiệp: Nhu cầu về số lượng lao động cho từng bộ phận, trong từng thời kỳ. , VD: Công thức tính: Ndt= Nct – Sh/c Trong đó: Ndt: Nhu cầu đào tạo công nhân kỹ thuật Nct: Nhu cầu cần thiết công nhân kỹ thuật để hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh và các nhu cầu khác Sh/c: Số công nhân kỹ thuật hiện có - Nhu cầu về kiến thức và các kỹ năng cần có trong công việc, các tiêu chuẩn cấp bậc công nhân và nghiệp vụ viên chức. - Phân tích trình độ, khả năng hiện có của người lao động.
Từng phân xưởng, từng phòng phải xem xét xem việc bố trí lao động có phù hợp với công việc không? Cần đào tạo cái gì, cho công việc nào?. + Nhu cầu bổ sung: nhu cầu cần có - số đã có. + Nhu cầu thay thế: xác định tỷ lệ % cần thay thế so với tổng cán bộ viên chức. +Nhu cầu đào tạo và tỷ lệ % rơi rớt trong quá trình đào tạo.
Căn cứ xác định nhu cầu đào tạo: - Chiến lược, mục tiêu phát triển của doanh nghiệp - Thực tế doanh nghiệp - Mô tả công việc (tiêu chuẩn công việc) - Nhu cầu cá nhân - Phương pháp thảo luận nhóm 11 - Quan sát: doanh nghiệp có thể quan sát quá trình làm việc của người lao động để từ đó đưa ra nhận xét về trình độ, khả năng của người lao động. - Phỏng vấn (chọn mẫu): Việc phỏng vấn có thể đánh giá khá chính xác về khả năng và nhu cầu đào tạo của người lao động. Tuy nhiên, nếu tiến hành phỏng vấn toàn bộ, nhất là với các doanh nghiệp có nhiều lao động thì rất mất thời gian. Vì vậy, với phương pháp phỏng vấn, doanh nghiệp có thể chọn mẫu, phỏng vấn xác suất.
Xây dựng chương trình Chương trình đào tạo là một hệ thống các môn học và bài học được dạy, cho thấy những kiến thức nào, kỹ năng nào cần được dạy và dạy trong bao lâu, trên cơ sở đó lựa chọn phương pháp đào phù hợp. Xác định thời gian đào tạo: tuỳ từng lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp mà chọn thời gian đào tạo cho hợp lý, hạn chế một cách thấp nhất những ảnh hưởng của công tác đào tạo đối với công việc hiện tại của người lao động. Như những người làm việc theo ca thì cần đào tạo lệch ca, hoặc như những lao động quản lý có thể mở các lớp đào tạo từ xa, hoặc đào tạo ngoài giờ…. Đào tạo kỹ năng gì? muốn trả lời được câu hỏi này cần phân tích xem những công việc nào mà người lao động đi đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu công việc, chưa có những kỹ năng nhằm làm việc đạt hiệu quả cao 1.
Triển khai Triển khai đào tạo là việc giáo viên sử dụng các trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện có, kết hợp với phương pháp đào tạo phù hợp, để dẫn dắt người lao động đến với mục tiêu đào tạo. 13 - Lựa chọn giáo viên: Giáo viên phải đủ trình độ, đủ năng lực đáp ứng được nhu cầu đào tạo. Giáo viên có thể ở bên ngoài hoặc bên trong doanh nghiệp.