Tổng quan nghiên cứu

Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của vùng trung du và miền núi phía Bắc, sở hữu diện tích tự nhiên 3.534,35 km2 cùng quy mô dân số đạt 1.286.945 người vào năm 2019. Trong đó, cư dân khu vực nông thôn chiếm tới 877.067 người, tương đương 67,94% dân số toàn tỉnh. Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của địa phương đạt 777.200 người, riêng khu vực nông thôn tập trung 556.900 người, chiếm 71,7% tổng nguồn nhân lực. Tuy nhiên, theo số liệu thống kê quốc gia, tỷ lệ lao động nông thôn chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật chiếm tới 77,8%. Thực trạng này tạo ra rào cản lớn đối với mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và tiến trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn.

Vấn đề cốt lõi được đặt ra là sự chuyển dịch mạnh mẽ của cơ cấu kinh tế tỉnh Thái Nguyên hướng về công nghiệp chế biến, chế tạo, điển hình là sự hiện diện của các tổ hợp sản xuất lớn thu hút hơn 120.000 lao động tại các khu công nghiệp. Bối cảnh đó đòi hỏi nông dân không chỉ nâng cao kỹ năng canh tác truyền thống mà còn phải trang bị tay nghề phi nông nghiệp để thích ứng với thị trường việc làm mới. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Nguyễn Minh Thùy tập trung đánh giá toàn diện công tác đào tạo nghề cho nông dân phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2011-2020.

Mục tiêu nghiên cứu hướng tới việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng triển khai các chính sách dạy nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 159/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở nhận diện các yếu tố ảnh hưởng, đề tài xác lập hệ thống giải pháp khả thi nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo nghề giai đoạn 2021-2025. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp các nhà hoạch định chính sách nâng cao thu nhập bình quân đầu người của tỉnh lên mức 90 triệu đồng/năm và hoàn thành 100% các tiêu chí nông thôn mới bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, kết hợp khung đánh giá chất lượng giáo dục nghề nghiệp của chuyên gia Trần Khánh Đức. Khung lý thuyết này tiếp cận chất lượng đào tạo thông qua ba tiêu chí then chốt: mức độ vượt trội về kiến thức và kỹ năng thực hành của người học, sự hoàn thiện trong quy trình tổ chức dạy nghề theo chuẩn đầu ra, và mức độ phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế địa phương. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết hiệu quả sử dụng nguồn lực trong đào tạo nghề của các nhà nghiên cứu Nguyễn Thành Độ và Nguyễn Thị Huyên (2011), xem xét mối quan hệ giữa chi phí đầu tư tài chính, trang thiết bị với tỷ lệ giải quyết việc làm và mức độ tăng trưởng thu nhập thực tế của lao động.

Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa dựa trên Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13, xác định rõ bản chất của đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc với ba cấp trình độ: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng. Khái niệm xây dựng nông thôn mới được tiếp cận toàn diện theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 10 và Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới với 11 nội dung thành phần, trong đó tiêu chí tỷ lệ lao động qua đào tạo và việc làm đóng vai trò đòn bẩy trực tiếp.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011-2020 của Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng các văn kiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua điều tra khảo sát trực tiếp người lao động nông thôn bằng bảng câu hỏi soạn sẵn.

Cỡ mẫu khảo sát được xác định chính xác theo công thức Slovin: n = N / (1 + N * e^2). Với quy mô bình quân số lao động nông thôn được đào tạo hàng năm trên toàn tỉnh là N = 4.574 người và mức sai số cho phép e = 5%, cỡ mẫu tối thiểu được tính toán là n = 368 lao động. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp định ngạch tại toàn bộ 9 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Thái Nguyên: thị xã Phổ Yên khảo sát 42 phiếu, huyện Phú Bình 43 phiếu, huyện Đại Từ 43 phiếu, và 6 huyện, thành phố còn lại (gồm thành phố Thái Nguyên, thành phố Sông Công, huyện Đồng Hỷ, Võ Nhai, Định Hóa, Phú Lương) mỗi địa phương khảo sát 40 phiếu.

Phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh và phân tích dãy số thời gian được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc làm rõ xu hướng biến động dữ liệu đào tạo nghề qua 10 năm. Phương pháp này giúp kiểm chứng mối quan hệ giữa vốn đầu tư ngân sách, danh mục ngành nghề đào tạo với khả năng thích ứng thị trường của học viên nông thôn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô đào tạo nghề duy trì tốc độ phát triển ổn định nhưng chưa thực sự bứt phá. Giai đoạn 2011-2020, tỉnh Thái Nguyên duy trì mức đào tạo bình quân đạt 4.574 lao động nông thôn mỗi năm. Tỷ lệ học viên tìm được việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề nông nghiệp với năng suất, thu nhập cao hơn dao động từ 75% đến 78%, đóng góp vào mức GRDP bình quân đầu người toàn tỉnh đạt 90 triệu đồng vào năm 2020.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế chuyển dịch rất nhanh nhưng công tác đào tạo nghề chưa thích ứng kịp thời. Năm 2020, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm tới 59% cơ cấu kinh tế, dịch vụ chiếm 31%, trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ còn chiếm 10%. Mặc dù các khu công nghiệp thu hút hơn 120.000 lao động với thu nhập bình quân gần 7 triệu đồng/tháng, phần lớn các khóa dạy nghề nông thôn thời gian qua vẫn tập trung vào các nghề nông nghiệp ngắn hạn dưới 3 tháng, tỷ lệ đào tạo chuyển đổi sang nghề phi nông nghiệp kỹ thuật cao chỉ đạt khoảng 22% đến 25%.

Thứ ba, sự thiếu hụt trang thiết bị và kinh nghiệm thực hành hạn chế chất lượng tay nghề. Đội ngũ giáo viên cơ hữu tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp cấp huyện còn mỏng, chủ yếu là cán bộ khuyến nông, khuyến lâm kiêm nhiệm. Cơ sở vật chất phục vụ thực hành cơ khí, điện dân dụng, công nghệ cao còn thiếu đồng bộ, dẫn tới tỷ lệ học viên đánh giá hài lòng ở mức độ xuất sắc về kỹ năng vận hành máy móc chỉ đạt khoảng 35%.

Thứ tư, nguồn vốn tài chính đầu tư cho đào tạo nghề có xu hướng suy giảm khi chuyển từ chương trình mục tiêu độc lập sang cơ chế lồng ghép. Sau năm 2015, kinh phí dạy nghề phụ thuộc vào ngân sách xây dựng nông thôn mới của từng huyện, khiến quy mô đào tạo ở các huyện miền núi vùng cao như Võ Nhai hay Định Hóa bị thu hẹp đáng kể so với khu vực đồng bằng Phú Bình, Phổ Yên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên xuất phát từ khâu khảo sát nhu cầu học nghề ban đầu ở cấp xã còn mang tính hình thức, chưa bám sát quy hoạch phát triển vùng kinh tế trọng điểm. Việc đào tạo nghề mới chủ yếu dựa trên năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo thay vì nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp đang đầu tư tại địa phương.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu biến động việc làm cần được trình bày qua biểu đồ cột kép thể hiện tỷ lệ lao động tham gia các ngành nghề phi nông nghiệp trước và sau đào tạo tại 9 huyện, thành phố. Đồng thời, một bảng thống kê chéo so sánh mức tăng trưởng thu nhập bình quân của 368 lao động được khảo sát sẽ làm rõ sự vượt trội về giá trị kinh tế của các lớp đào tạo tích hợp công nghệ cao so với phương thức truyền thống.

Khi so sánh với kinh nghiệm của tỉnh Thái Bình (đào tạo 73.558 người với kinh phí hỗ trợ 81 tỷ đồng, đạt tỷ lệ việc làm phi nông nghiệp 75%) và tỉnh Quảng Bình (đào tạo 12.361 lao động với 79% có việc làm), Thái Nguyên sở hữu lợi thế công nghiệp vượt trội với các dự án FDI đạt tổng vốn 8,1 tỷ USD, nổi bật là tổ hợp Samsung hơn 7 tỷ USD và dự án Núi Pháo gần 1 tỷ USD. Tuy nhiên, hiệu quả kết nối giữa trung tâm dạy nghề và doanh nghiệp sử dụng lao động của Thái Nguyên vẫn còn lỏng lẻo, khiến nông dân chưa tận dụng hết cơ hội làm việc trong chuỗi cung ứng công nghiệp hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình điều tra và dự báo nhu cầu học nghề của nông dân. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân 180 xã, phường, thị trấn tiến hành số hóa dữ liệu nhu cầu học nghề định kỳ hàng năm. Mục tiêu đặt ra là khảo sát chính xác 100% đối tượng lao động từ 15 đến 50 tuổi có nguyện vọng chuyển đổi nghề, hoàn thành hệ thống cơ sở dữ liệu số trước quý 2 năm 2023.

Thứ hai, đổi mới nội dung chương trình và giáo trình đào tạo nghề gắn liền chuỗi giá trị địa phương. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp các trường cao đẳng nghề xây dựng mới tối thiểu 15 bộ giáo trình chuyên sâu, tập trung vào chế biến chè công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ kết hợp du lịch sinh thái hồ Núi Cốc và vận hành thiết bị cơ giới hóa. Chỉ tiêu đặt ra là nâng tỷ lượng thời gian thực hành lên mức tối thiểu 70% tổng thời lượng khóa học, triển khai đồng bộ từ năm 2023 đến 2024.

Thứ ba, thiết lập cơ chế hợp tác ba bên giữa Nhà nước, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp. Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Thái Nguyên làm đầu mối ký kết chương trình đặt hàng đào tạo với các tập đoàn sản xuất lớn tại khu công nghiệp Yên Bình, Sông Công và Điềm Thụy. Phấn đấu đạt mục tiêu bảo đảm việc làm ổn định với thu nhập từ 7 triệu đồng/tháng trở lên cho ít nhất 80% học viên sau khi hoàn thành khóa đào tạo nghề phi nông nghiệp giai đoạn 2023-2025.

Thứ tư, tăng cường nguồn lực tài chính và chuẩn hóa năng lực đội ngũ nhà giáo. Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên cần ưu tiên bố trí bổ sung nguồn vốn ngân sách địa phương khoảng 30 tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2025 để nâng cấp trang thiết bị xưởng thực hành cho 9 trung tâm giáo dục nghề nghiệp cấp huyện. Đồng thời, tổ chức bồi dưỡng kỹ năng sư phạm và cập nhật công nghệ mới cho 100% cán bộ, giáo viên dạy nghề trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và ban chỉ đạo nông thôn mới: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có thể sử dụng số liệu từ 368 phiếu điều tra thực tế để xây dựng kế hoạch phân bổ vốn đào tạo nghề trung hạn giai đoạn 2021-2025 sát với mục tiêu giảm nghèo bền vững.

Nhóm lãnh đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ban giám hiệu các trường cao đẳng, trung cấp và trung tâm giáo dục nghề nghiệp cấp huyện có thể ứng dụng khung chương trình module hóa và các tiêu chí đánh giá chất lượng của luận văn để cơ cấu lại thời lượng lý thuyết - thực hành, từ đó thiết kế các khóa học ngắn hạn linh hoạt phù hợp với lịch mùa vụ của nông dân.

Nhóm doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp: Các đơn vị sử dụng lao động tại các khu công nghiệp tập trung và các hợp tác xã chế biến chè lớn tại Đại Từ, Đồng Hỷ có thể tham khảo mô hình liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng nhằm cắt giảm chi phí đào tạo lại nhân công mới tuyển dụng.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành kinh tế: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể khai thác phương pháp chọn mẫu Slovin, hệ thống chỉ tiêu thống kê nguồn nhân lực nông thôn và chuỗi số liệu 10 năm làm tài liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu khoa học cùng chủ đề.

Câu hỏi thường gặp

Chương trình đào tạo nghề theo Đề án 1956 tại Thái Nguyên đạt được kết quả nổi bật nào nhất? Thành tựu lớn nhất là việc đào tạo nghề bình quân cho 4.574 lao động nông thôn mỗi năm, nâng tỷ lệ có việc làm hoặc cải thiện năng suất lao động lên mức gần 78%. Kết quả này hỗ trợ trực tiếp việc hoàn thành tiêu chí số 12 và tiêu chí số 14 trong bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới của tỉnh.

Tại sao nghiên cứu lại chọn quy mô mẫu khảo sát là 368 lao động nông thôn? Cỡ mẫu 368 được tính toán khoa học dựa trên công thức xác suất Slovin với tổng thể bình quân 4.574 lao động được đào tạo hàng năm và sai số cho phép 5%. Phương pháp phân bổ mẫu phủ khắp 9 đơn vị hành chính cấp huyện giúp đảm bảo độ tin cậy đại diện cao cho toàn tỉnh.

Nông dân theo học các lớp nghề phi nông nghiệp có mức thu nhập thay đổi ra sao? Theo khảo sát, lao động nông thôn sau khi hoàn thành các khóa đào tạo nghề cơ khí, điện tử và may công nghiệp được tuyển dụng vào các khu công nghiệp đạt mức thu nhập bình quân xấp xỉ 7 triệu đồng/tháng, cao hơn gấp hai đến ba lần so với thu nhập từ canh tác nông nghiệp thuần túy.

Các khu công nghiệp FDI quy mô lớn như Samsung tạo ra thách thức gì cho công tác dạy nghề địa phương? Sự phát triển của tổ hợp Samsung với vốn đầu tư hơn 7 tỷ USD tại Phổ Yên đặt ra tiêu chuẩn khắt khe về kỷ luật lao động và kỹ năng số. Điều này đòi hỏi các trung tâm dạy nghề địa phương phải chuyển dịch mạnh mẽ từ phương thức dạy nghề thủ công sang đào tạo kỹ năng công nghiệp hiện đại.

Đâu là nguyên nhân chính khiến một bộ phận lao động sau đào tạo chưa phát huy được hiệu quả nghề nghiệp? Hạn chế bắt nguồn từ việc xác định nhu cầu học nghề chưa sát thực tiễn tại cấp cơ sở, nội dung đào tạo còn nặng tính lý thuyết và thiếu hụt trang thiết bị máy móc tiên tiến để học viên thực hành, dẫn tới khó khăn khi tiếp cận dây chuyền sản xuất thực tế.

Kết luận

• Luận văn khẳng định đào tạo nghề cho nông dân là trụ cột then chốt, quyết định chất lượng nguồn nhân lực và tính bền vững của chương trình xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Thái Nguyên.

• Đề tài làm rõ bức tranh thực trạng giai đoạn 2011-2020 khi toàn tỉnh đào tạo bình quân 4.574 lao động/năm, giúp 75% đến 78% học viên có việc làm và thu nhập cải thiện.

• Chỉ rõ những điểm nghẽn về cơ cấu đào tạo chưa bắt kịp tốc độ công nghiệp hóa (chiếm 59% cơ cấu kinh tế năm 2020) và sự thiếu hụt trang thiết bị thực hành tại các cơ sở dạy nghề cấp huyện.

• Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung vào số hóa dữ liệu khảo sát nhu cầu, chuẩn hóa 15 bộ giáo trình công nghệ cao và thiết lập liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng với doanh nghiệp khu công nghiệp.

• Cung cấp cơ sở khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực nông thôn tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2021-2025.

Công tác phát triển nhân lực nông thôn đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt, đồng bộ từ các cấp chính quyền đến cộng đồng doanh nghiệp trong lộ trình 2021-2025. Quý độc giả, cán bộ nghiên cứu và các nhà quản lý quan tâm vui lòng tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Minh Thùy để tiếp cận hệ thống dữ liệu chi tiết và các đề xuất chuyên sâu.