Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở nước ngoài Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đào tạo nghề, dạy nghề thông qua mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, quản lý giáo dục nghề nghiệp. Ở Liên Xô trước đây các tác giả Batusep, Xla Sapôrinxki Y.A và nhiều tác giả khác đã xây dựng những cơ sở lý luận xác đáng trong việc xây dựng nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục nghề nghiệp.
Ở Đức, các tác giả như D.Germer, Heinz Frakiewicz đã đưa ra những cơ sở sư phạm đối với việc tổ chức quản lý hoạt động dạy học nghề nghiệp. Các tác giả đã rất quan tâm tới sự phối hợp chặt chẽ giữa dạy lý luận và luyện tập kỹ năng, kỹ thuật trong thực tiễn sản xuất. Các hệ thống dạy nghề và nghiên cứu về phát triển nghề nghiệp xuất hiện ở nhiều quốc gia khác như Pháp, Mỹ, Thụy Điển, Phần Lan,… trong đó đều đề cập tới quản lý đối với các thành phần cơ bản tạo nên quá trình đào tạo nghề ở các cơ sở giáo dục. (dẫn theo [22]) Trong cuốn Giáo dục kỹ thuật và đào tạo thế kỷ XXI: Các khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế và tổ chức giáo dục, Khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc, John Daniel và Goran Hultin đã đề cập tới mối quan hệ gắn bó giữa mục tiêu phát triển đào tạo nghề với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; giữa đào tạo với sự biến động của thị trường lao động; sự cần thiết phải thiết lập một cơ cấu giáo dục mở và linh hoạt.
Các tác giả đã khẳng định rằng, trong nền kinh tế thị trường, hoạt động quản lý liên quan tới thiết kế chính sách về đào tạo nghề cần lưu ý tới mối quan hệ hợp tác giữa các nước, người sử dụng lao động và nhà sản xuất. Nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay. (dẫn theo [26]) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý hoạt động đào tạo nghề được nhiều chuyên gia nghiên cứu với nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau. HeinzWeihrich và đồng nghiệp đã đưa ra nhận định của mình trong một báo cáo khoa học “Quản lý đào tạo nghề như một công ty liên doanh cách tiếp cận hợp tác đào tạo của Đức như một mô hình cho Mỹ với các nước khác”.
Trong báo cáo khoa học này các tác giả đã giới thiệu các mô hình đào tạo nghề theo phương pháp truyền thống của Đức và mô hình đào tạo nghề cần được bổ sung để hướng tới mức độ cao hơn. Đào tạo nghề theo hệ thống tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, tác giả cho rằng đổi mới mô hình đào tạo nghề là rất quan trọng và mô hình mới là mô hình đào tạo liên doanh, đào tạo song hành. Học viên có thể tự mình tìm một trang trại hay doanh nghiệp để làm nơi thực hành kỹ năng cho mình. Tác giả Gaskov với tác phẩm “Quản lý đào tạo nghề” đã tìm ra hệ thống khoa học quản lý tổ chức đào tạo nghề trong các cơ sở đào tạo nghề công lập như quản lý tài chính, xây dựng mục tiêu, cơ cấu tổ chức, quản lý đào tạo .;đồng thời khuyến khích những người trong tổ chức đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả để tổ chức của mình đạt kết quả cao nhất trong thực hiện các nhiệm vụ.
(dẫn theo [22]) Các nghiên cứu đều cho thấy cần phải có sự cải tiến liên tục trong công tác quản lý hoạt động đào tạo để đạt hiệu quả cao trong việc đào tạo nghề cho người lao động và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động hiện nay. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, đào tạo nghề, dạy nghề nói chung và quản lý hoạt động đào tạo nghề, dậy nghề nói riêng là vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Trong đó có thể kể đến một số công trình sau: Một số công trình nghiên cứu về lịch sử dạy nghề như: “100 năm thành lập Trường trung cấp công nghiệp I Hà Nội”, của Đinh Văn Mộng (1986), “80 năm Trường kỹ thuật Cao Thắng” của Phạm Quốc Trường, (1994). “90 năm Trường kỹ thuật thực hành Huế” của Chu Quang Trứ (2000).
Nghiên cứu sự phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com triển sư phạm kỹ thuật trên thế giới và trong nước để áp dụng trường đại học sư phạm kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh” của tập thể Nguyễn Thụy Ái, Đỗ Thành Long, Lê Đình Viện (1997). (dẫn theo [22]) Tác giả Phạm Văn Kha trong quấn “Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” [14] đã phân tích mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong điều kiện Việt Nam hiện nay cả về mặt lý luận và thực tiễn với những giải pháp tăng cường sự phù hợp giữa đào tạo và sử dụng, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của yếu tố quản lý đào tạo nghề, dạy nghề của cả hệ thống và từng cơ sở. Tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến (đồng chủ biên) với công trình “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn” [4] đã thiết lập cơ sở lý luận, phân tích thực trạng về phát triển lao động kỹ thuật, đề xuất một số giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam đến năm 2010, trong đó đưa ra giải pháp nội dung, chương trình và quản lý tổ chức quá trình đào tạo nhằm đạt tới sự phù hợp giữa đào tạo và sử dụng. Luận án Tiến sỹ của Phan Chính Thức với đề tài “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp CNH-HĐH [26], đã đi sâu nghiên cứu cơ sở lý luận của đào tạo nghề, đề xuất một số giải pháp phát triển đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội”.
Ở viện nghiên cứu khoa học dạy nghề (Tổng cục dạy nghề) có liên quan đến đào tạo nghề đáng lưu ý: - Dự án nghiên cứu tổng thể UNDP, UNESCO và Bộ giáo dục và Đào tạo VIE/89/002. - Dự án Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề TA 2761-VIE của Bộ giáo dục và Đào tạo, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB). - Tổng kết 10 đổi mới ngành giáo dục chuyên nghiệp giai đoạn 1986-1995 của viện nghiên cứu giáo dục. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - “Vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại các loại hình lao động nghề nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của sự phát triển kinh tế trong điều kiện kinh tế mới” (Đề tài khoa học cấp nhà nước KX07-14).
[28] Hệ thống giáo dục nghề của Việt Nam đã được hình thành nhiều năm, được thể chế hóa vào luật Điều 32 Luật giáo dục 2005 quy định giáo dục nghề nghiệp boa gồm: Trung cấp chuyên nghiệp được thực hiện từ 3 đến 4 năm đối với người tốt nghiệp trung học cơ sở, từ 1 đến 2 năm đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông và dậy nghề dưới 1 năm đối với sơ cấp, từ 1 đến 3 năm đối với trung cấp và cao đẳng nghề. Vấn đề đào tạo nghề, quản lý quá trình ĐTN cũng được quan tâm ngay từ những năm 1970 khi đó còn Tổng cục dạy nghề, một số nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, tâm lý học lao động như: Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Ngọc Đường, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Bá Dương,. đã chủ động nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề. Đặc biệt, một số nhà nghiên cứu như Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Trần Kiểm đã đi sâu nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.
Những nghiên cứu này đã đóng góp nhiều vấn đề quan trọng, đã khái quát hóa và làm rõ được những vấn đề lý luận, đề xuất những biện pháp quản lý góp phần nâng cao hiệu quả quản lý quá trình đào tạo nghề nói chung và hoạt động dạy nghề nói riêng. [28] Qua phân tích một số đặc trưng của một số nước về hệ thống giáo dục nghề nghiệp,. hệ thống giáo dục được hình thành do yêu cầu của thị trường lao động do nhu cầu hoạt động nghề nghiệp, nhu cầu việc làm của người lao động trong xã hội. Hệ thống giáo dục nghề nghiệp là cung cấp cho xã hội, cho thị trường lao động những kỹ thuật viên, trung cấp, công nhân kỹ thuật, người lao động có trình độ, có tay nghề, có năng lực ở mọi phương diện kiến thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệp làm việc được đào tạo trong các cơ sở giáo dục.
Hình thức đào tạo rất phong phú, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đa dạng, đào tạo dài hạn, ngắn hạn, đào tạo chính quy và không chính quy, đào tạo tại các trường, hay các trung tâm dạy nghề. (dẫn theo [26]) Đặc trưng nổi bật của hệ thống nghề nghiệp là lao động có kỹ năng, kỹ sảo hành nghề trên cơ sở nắm vững lý thuyết do đó vấn đề dạy thực hành, luyện tập kỹ năng là những hoạt động cốt lõi trong quá trình đào tạo nghề, dạy nghề, sức mạnh của hệ thống giáo dục nghề nghiệp và chất lượng đào tạo cao là sự đảm bảo hoạt động có hiệu quả của thị trường lao động cũng là cơ sở để thị trường lao động có thể thực hiện được các quy luật cung cầu, quy luật giá trị và quy luật cạnh tranh. Nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn người dân tộc thiểu số 1. Khái niệm nghề Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: Là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn.
Ở Anh được định nghĩa: Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật. Ở Pháp nghề là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống. Ở Đức được định nghĩa: Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó.