Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một trong những trọng tâm trong chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Đảng và Nhà nước, được thể chế hóa thông qua Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án "Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020". Xuất phát điểm của kinh tế nông thôn Việt Nam nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng mang nặng tính tự cung tự cấp, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, dẫn đến năng suất lao động hạn chế và thu nhập bấp bênh.
Huyện Điện Biên (tỉnh Điện Biên) là địa bàn có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa nước tại khu vực lòng chảo. Tuy nhiên, hoạt động canh tác tại đây phụ thuộc nhiều vào thời tiết và biến động thị trường, trong khi quỹ lao động dôi dư hàng năm lớn nhưng gặp trở ngại trong việc chuyển dịch cơ cấu do thiếu kỹ năng nghề. Trong tiến trình xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 800/QĐ-TTg, huyện Điện Biên đã lồng ghép thực hiện Đề án 1956. Dù đạt được những kết quả ban đầu, việc triển khai chính sách tại địa phương gặp nhiều khó khăn về năng lực cán bộ cơ sở, đội ngũ giáo viên cơ hữu thiếu và yếu, trang thiết bị phục vụ thực hành chưa đồng bộ. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vì Thị Thảo tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:
- Quá trình phân cấp, tổ chức, thực hiện chính sách ở huyện diễn ra như thế nào?
- Tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện thời gian qua ra sao?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề trên địa bàn?
- Cần có những giải pháp chủ yếu nào để thực hiện tốt chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của địa phương trong thời gian tới?
Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá thực trạng thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Điện Biên, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, góp phần giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
- Đánh giá thực trạng tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Điện Biên giai đoạn 2012 - 2014.
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tổ chức thực hiện chính sách tại địa phương.
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận, thực tiễn và các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Chủ thể khảo sát gồm lao động nông thôn, cán bộ quản lý cấp huyện, các tổ chức dạy nghề và doanh nghiệp trên địa bàn. Phạm vi nghiên cứu về không gian thực hiện tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên; phạm vi thời gian sử dụng số liệu thứ cấp giai đoạn 2012 - 2014 và số liệu sơ cấp khảo sát năm 2015; phạm vi nội dung tập trung vào hệ đào tạo nghề sơ cấp và ngắn hạn (dưới 3 tháng) theo Quyết định 1956/QĐ-TTg.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng khung lý luận về chính sách công và đào tạo nghề. Tác giả tổng hợp các khái niệm cơ bản về chính sách, lao động, lao động nông thôn, đặc điểm tính thời vụ, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tâm lý sản xuất tiểu nông. Về mặt pháp lý, đề tài dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Dạy nghề năm 2006; Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết số 24/2008/NĐ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ; Quyết định số 07/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo; Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; và Quyết định số 800/QĐ-TTg về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng định nghĩa về chương trình đào tạo của Wentling (1993) và tổng kết bài học kinh nghiệm từ huyện Lương Tài (Bắc Ninh), tỉnh Thanh Hóa, phong tràu Saemaul (Hàn Quốc) cùng mô hình đào tạo nghề trong doanh nghiệp của Nhật Bản.
Về phương pháp thu thập dữ liệu, tác giả kết hợp hai nguồn:
- Nguồn thứ cấp: Báo cáo định kỳ và số liệu thống kê giai đoạn 2012 - 2014 từ Ủy ban nhân dân huyện Điện Biên, Chi cục Thống kê huyện, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện, và Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Điện Biên.
- Nguồn sơ cấp: Thu thập thông qua điều tra chọn mẫu có định hướng 60 lao động nông thôn đã qua đào tạo nghề sơ cấp và ngắn hạn tại 3 xã đại diện (20 người/xã): xã Thanh An, xã Thanh Chăn và xã Thanh Xương. Ngoài ra, tác giả áp dụng phương pháp phỏng vấn nhân chứng chủ chốt (KIP) đối với cán bộ quản lý và phỏng vấn bán cấu trúc (SSI) để ghi nhận các thông tin định tính bổ trợ.
| STT |
Địa bàn xã |
Ngành nghề khảo sát |
Số lượng điều tra (người) |
Ghi chú |
| 1 |
Thanh An |
May thổ cẩm |
5 |
Khóa đào tạo sơ cấp và ngắn hạn dưới 3 tháng |
|
|
Trồng lúa |
10 |
|
|
|
Trồng nấm |
5 |
|
| 2 |
Thanh Chăn |
Trồng lúa |
5 |
Khóa đào tạo sơ cấp và ngắn hạn dưới 3 tháng |
|
|
Trồng nấm |
5 |
|
|
|
Chăn nuôi - thú y |
10 |
|
| 3 |
Thanh Xương |
Nghiệp vụ nhà hàng khách sạn |
6 |
Khóa đào tạo sơ cấp và ngắn hạn dưới 3 tháng |
|
|
Chăn nuôi - thú y |
11 |
|
|
|
May thổ cẩm |
3 |
|
| Tổng |
3 xã |
5 nhóm ngành nghề |
60 |
|
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Phiếu điều tra được kiểm tra, làm sạch, mã hóa và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp phân tích bao gồm thống kê mô tả (tính toán số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân) và phương pháp so sánh nhằm phản ánh sự thay đổi về quy mô đào tạo, việc làm, cơ cấu ngành nghề và thu nhập của người lao động trước và sau khi tham gia khóa đào tạo nghề.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần này xác định tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và thực trạng chất lượng lao động nông thôn tại huyện Điện Biên. Tác giả công bố hệ thống mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn, đóng góp mới và bố cục 5 phần của khóa luận.
Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Chương này hệ thống hóa cơ sở lý luận về lao động, đào tạo nghề và các nội dung đánh giá việc triển khai chính sách (tuyên truyền, khảo sát nhu cầu, bồi dưỡng giáo viên, xây dựng chương trình, đầu tư cơ sở vật chất, thực hiện định mức hỗ trợ). Tác giả phân tích các nhân tố ảnh hưởng: thể chế chính sách, nhận thức xã hội, chất lượng giáo viên, thiết bị dạy nghề, giáo trình và sự gắn kết giữa bốn nhà (Nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, doanh nghiệp). Phần cơ sở thực tiễn trình bày các chính sách lớn của Trung ương, phân tích kinh nghiệm đào tạo nghề theo địa chỉ tại huyện Lương Tài (Bắc Ninh), mô hình thẻ học nghề nông nghiệp tại Thanh Hóa, phong trào phát triển nông thôn Saemaul tại Hàn Quốc và cơ chế đào tạo tại xưởng theo Luật Dạy nghề của Nhật Bản.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả xác định đối tượng, phạm vi không gian tại huyện Điện Biên, phạm vi thời gian (số liệu thứ cấp 2012 - 2014, số liệu sơ cấp 2015). Trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu chọn mẫu 60 quan sát tại 3 xã (Thanh An, Thanh Chăn, Thanh Xương), quy trình thu thập số liệu thứ cấp, thiết kế phiếu điều tra, kỹ thuật phỏng vấn sâu KIP và SSI, phương pháp nhập liệu Excel, phương pháp phân tích thống kê mô tả và so sánh cùng hệ thống chỉ tiêu đánh giá quá trình và kết quả đào tạo.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phản ánh toàn diện hiện trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội và việc triển khai Đề án 1956 tại huyện Điện Biên:
- Đặc điểm địa bàn: Tổng diện tích tự nhiên đạt 163.924,96 ha, trong đó đất nông nghiệp giảm nhẹ từ 137.173,3 ha (83,68%) năm 2012 xuống 137.009,37 ha (83,58%) năm 2014 do chuyển đổi sang đất hạ tầng công cộng và đô thị; đất phi nông nghiệp tăng tương ứng từ 7.294,71 ha lên 7.638,95 ha. Huyện có địa hình chia làm hai vùng rõ rệt: vùng lòng chảo gồm 13 xã bằng phẳng và vùng ngoài gồm 12 xã đồi núi dốc, chia cắt. Dân số năm 2014 là 118.248 người với 9 dân tộc (Thái 53%, Kinh 28%, Mông 7,7%, còn lại là các dân tộc khác). Lao động trong độ tuổi là 67.273 người; lực lượng đang làm việc là 64.713 người (nông lâm thủy sản chiếm 70,86%, công nghiệp - xây dựng chiếm 16,13%, dịch vụ chiếm 13,01%). Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 20,82% (2012) xuống 15,73% (2014), nhưng hộ cận nghèo tăng từ 10,55% lên 18,22%. Tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân đạt 12,87%/năm.
- Tổ chức thực hiện chính sách: UBND huyện Điện Biên thành lập Ban chỉ đạo Đề án 1956 cấp huyện từ tháng 12/2009, giao Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội làm cơ quan thường trực; ban hành Kế hoạch số 35/KH-UBND ngày 29/3/2012, Kế hoạch số 119/KH-UBND ngày 16/12/2011 và Quyết định kiện toàn số 72/QĐ-UBND.
- Quy mô đào tạo giai đoạn 2012 - 2014: Huyện đã tổ chức 91 lớp đào tạo nghề cho 2.772 học viên, trung bình 30 học viên/lớp. Nhóm nghề nông nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối.
| Ngành nghề đào tạo |
Năm 2012 |
|
Năm 2013 |
|
Năm 2014 |
|
Tổng số lớp |
Tổng số học viên |
|
Số lớp |
Số học viên |
Số lớp |
Số học viên |
Số lớp |
Số học viên |
|
|
| Kỹ thuật trồng trọt |
9 |
270 |
6 |
184 |
8 |
240 |
23 |
694 |
| Kỹ thuật chăn nuôi |
7 |
212 |
5 |
152 |
7 |
210 |
19 |
574 |
| Kỹ thuật nuôi trồng thủy sản |
6 |
183 |
4 |
123 |
5 |
148 |
15 |
454 |
| Kỹ thuật trồng nấm |
4 |
118 |
5 |
153 |
5 |
150 |
14 |
421 |
| May thổ cẩm |
2 |
55 |
3 |
92 |
4 |
121 |
9 |
268 |
| Nghiệp vụ nhà hàng khách sạn |
1 |
32 |
1 |
30 |
2 |
87 |
4 |
149 |
| Sửa chữa xe máy |
1 |
31 |
1 |
32 |
2 |
58 |
4 |
121 |
| Điện dân dụng |
1 |
28 |
1 |
31 |
1 |
32 |
3 |
91 |
| Tổng cộng |
31 |
929 |
26 |
797 |
34 |
1.046 |
91 |
2.772 |
- Hiệu quả giải quyết việc làm: Đã có 2.657 trên tổng số 2.772 lao động (đạt tỷ lệ 95,85%) có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ với năng suất và thu nhập cao hơn. Trong đó, 2.292 lao động làm việc trong khối nông lâm nghiệp và 365 lao động thuộc các ngành nghề phi nông nghiệp.
- Các yếu tố ảnh hưởng: Văn bản phân tích tác động từ cơ chế hỗ trợ chi phí học nghề, nhận thức học viên, trình độ sư phạm và chuyên môn của đội ngũ giáo viên, tình trạng cơ sở vật chất - thiết bị dạy nghề tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện, tính tương thích của giáo trình và mức độ liên kết giữa chính quyền, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm.
Phần 5: Những giải pháp chủ yếu để phát triển ĐTN cho LĐNT
Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp và nhóm kiến nghị cụ thể:
- Nâng cao nhận thức về đào tạo nghề cho người lao động: Đổi mới tuyên truyền thông qua các kênh truyền thông cơ sở, phổ biến mô hình điển hình.
- Nâng cao trình độ và năng lực cán bộ địa phương: Tổ chức tập huấn nghiệp vụ khảo sát, thống kê và quản lý đào tạo nghề cho cán bộ xã, thôn bản.
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách: Rà soát mức chi phí hỗ trợ học nghề, thủ tục thanh quyết toán kinh phí đào tạo theo nhóm đối tượng.
- Tăng cường nguồn lực đào tạo: Đa dạng hóa nguồn vốn ngân sách và xã hội hóa đầu tư cho công tác dạy nghề.
- Tăng cường liên kết ba bên: Kết nối chặt chẽ giữa người học, cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp sử dụng lao động hoặc bao tiêu nông sản.
- Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị: Hiện đại hóa xưởng thực hành, bổ sung thiết bị dạy nghề sát với thực tế sản xuất tại địa phương.
- Các kiến nghị phân cấp: Tác giả đưa ra các kiến nghị riêng biệt đối với Nhà nước, các cơ sở đào tạo nghề, chính quyền địa phương huyện/xã, người lao động nông thôn và các doanh nghiệp trên địa bàn.
Kết quả và đóng góp của nghiên cứu
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa các kết quả triển khai Đề án 1956 tại địa bàn huyện Điện Biên giai đoạn 2012 - 2014 dựa trên các số liệu chính thức:
- Tổng số lớp đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng đạt 91 lớp với 2.772 học viên tốt nghiệp (năm 2012: 31 lớp/929 học viên; năm 2013: 26 lớp/797 học viên; năm 2014: 34 lớp/1.046 học viên).
- Cơ cấu ngành nghề phản ánh đúng đặc thù kinh tế vùng: khối nghề nông nghiệp chiếm 77,3% tổng số học viên (kỹ thuật trồng trọt 694 người, chăn nuôi 574 người, thủy sản 454 người, trồng nấm 421 người); khối nghề phi nông nghiệp chiếm 22,7% (may thổ cẩm 268 người, nghiệp vụ nhà hàng khách sạn 149 người, sửa chữa xe máy 121 người, điện dân dụng 91 người).
- Về hiệu quả giải quyết việc làm, có 2.657 lao động sau đào tạo có việc làm hoặc nâng cao hiệu quả làm việc tại chỗ (tỷ lệ 95,85%), trong đó 2.292 người làm nông lâm nghiệp và 365 người làm việc trong các ngành nghề phi nông nghiệp và dịch vụ.
Các giải pháp do tác giả đề xuất tập trung vào 6 nhóm biện pháp hành chính - kinh tế và 5 nhóm kiến nghị phân định trách nhiệm cụ thể giữa cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị đào tạo, doanh nghiệp và người học.
Đóng góp mới của đề tài được tác giả xác định qua ba điểm:
- Làm rõ ý nghĩa kinh tế - xã hội của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới tại một huyện miền núi biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.
- Cung cấp bức tranh phân tích thực chứng có hệ thống về kết quả tổ chức, quy mô đào tạo và hiệu quả giải quyết việc làm của Đề án 1956 tại huyện Điện Biên qua chuỗi số liệu 2012 - 2014.
- Đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể xuất phát từ những tồn tại thực tế của địa phương về đội ngũ giáo viên, thiết bị thực hành và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực địa và dữ liệu:
- Mẫu điều tra sơ cấp gồm 60 lao động mới chỉ tập trung tại 3 xã (Thanh An, Thanh Chăn, Thanh Xương) thuộc khu vực lòng chảo, chưa khảo sát các xã vùng cao, biên giới (khu vực 12 xã vùng ngoài) nơi có tỷ lệ đồng bào dân tộc Mông cao và điều kiện tiếp cận dịch vụ đào tạo khó khăn hơn.
- Chuỗi số liệu thứ cấp dừng lại ở mốc năm 2014, chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh đơn biến, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường mức độ tác động ròng của chính sách đào tạo nghề đến thu nhập hộ gia đình sau khi đã kiểm soát các biến nhân khẩu học và tài sản.
- Do văn bản chưa trình bày sâu về đánh giá mức độ gắn bó với việc làm phi nông nghiệp dài hạn, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng địa bàn sang các xã vùng ngoài và thực hiện đánh giá tác động dài hạn (longitudinal study) về độ bền vững của việc làm và thu nhập của lao động sau đào tạo.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị phát triển nông thôn và Quản lý công khi nghiên cứu về chính sách giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn.
Nội dung nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với cán bộ quản lý ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tại các huyện miền núi có điều kiện tự nhiên - xã hội tương đồng với huyện Điện Biên trong việc tham khảo bộ chỉ tiêu đánh giá việc làm, quy trình khảo sát nhu cầu học nghề thực tế tại thôn bản và phương thức phối hợp giữa chính quyền cơ sở với Trung tâm Giáo dục thường xuyên / Trung tâm Dạy nghề cấp huyện.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong giai đoạn 2012 - 2014, huyện Điện Biên đã tổ chức bao nhiêu lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn và kết quả ra sao?
Huyện đã tổ chức 91 lớp đào tạo nghề trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng cho 2.772 học viên. Năm 2012 mở 31 lớp (929 học viên), năm 2013 giảm xuống 26 lớp (797 học viên), và năm 2014 tăng lên 34 lớp (1.046 học viên). Ngành có số lượng đào tạo lớn nhất là kỹ thuật trồng trọt (23 lớp, 694 học viên) và chăn nuôi (19 lớp, 574 học viên).
2. Khảo sát thực địa sơ cấp của đề tài được thực hiện trên cỡ mẫu bao nhiêu và tại những địa bàn nào?
Khảo sát sơ cấp được thực hiện trên 60 lao động nông thôn đã qua đào tạo nghề, phân bổ đều tại 3 xã (20 người/xã) gồm xã Thanh An, xã Thanh Chăn và xã Thanh Xương, bao quát 5 nhóm nghề: may thổ cẩm, trồng lúa, trồng nấm, chăn nuôi - thú y và nghiệp vụ nhà hàng khách sạn.
3. Tỷ lệ lao động có việc làm sau khi được đào tạo nghề tại huyện Điện Biên là bao nhiêu?
Theo số liệu báo cáo của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện, tỷ lệ người lao động có việc làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ với năng suất và thu nhập cao hơn đạt 95,85% (2.657/2.772 lao động). Trong đó, 2.292 người làm việc trong lĩnh vực nông lâm nghiệp và 365 người làm việc trong các ngành phi nông nghiệp.
4. Cơ cấu kinh tế và lao động của huyện Điện Biên trong giai đoạn nghiên cứu chuyển dịch theo hướng nào?
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp - thủy sản giảm tỷ trọng từ 43,12% (năm 2012) xuống 33,46% (năm 2014); công nghiệp - xây dựng tăng từ 26,84% lên 34,04%; thương mại - dịch vụ tăng từ 30,04% lên 32,50%. Tương ứng, tỷ trọng lao động làm việc trong ngành nông lâm nghiệp giảm từ 75,52% (2012) xuống 70,86% (2014).
5. Khóa luận chỉ ra những khó khăn đặc thù nào của địa bàn nghiên cứu tác động đến công tác dạy nghề?
Huyện có địa hình chia cắt phức tạp (12 xã vùng ngoài là núi cao, độ dốc lớn), giao thông đi lại khó khăn, thời tiết khắc nghiệt; trình độ dân trí không đồng đều, tình trạng tái mù chữ và rào cản ngôn ngữ ở vùng sâu còn tồn tại; mạng lưới cơ sở vật chất, trang thiết bị của Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện còn thiếu thốn và đội ngũ giáo viên cơ hữu chưa đáp ứng đủ nhu cầu giảng dạy thực hành.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vì Thị Thảo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, pháp lý và phân tích thực trạng thực hiện Đề án 1956 về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Điện Biên giai đoạn 2012 - 2014. Kết quả cho thấy chính sách đã hỗ trợ đào tạo cho 2.772 lao động thông qua 91 lớp học, đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương và duy trì tỷ lệ có việc làm đạt 95,85%. Dựa trên việc chỉ ra các bất cập về cơ sở vật chất, năng lực giáo viên và liên kết doanh nghiệp, nghiên cứu đề xuất hệ thống 6 giải pháp và 5 nhóm kiến nghị có giá trị ứng dụng thực tiễn cho công tác quản lý và tổ chức dạy nghề tại địa bàn nghiên cứu.