Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI ĐỊA PHƯƠNG 1. Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề tại địa phương 1. Các vấn đề cơ bản về đào tạo nghề và quản lý đào tạo nghề 1. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm “ Đào tạo” là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp hoặc yêu cầu cần thiết của xã hội.
Đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất. - Khái niệm "nghề" theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định. Thuật ngữ “nghề” được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Ở Việt Nam, có thể hiểu: "Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được.
Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội". Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân thì: "Khái niệm nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định". - Khái niệm “Đào tạo nghề” Theo tài liệu của Bộ LĐTB&XH (2002): "Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khóa học hành được một nghề trong xã hội”. - Khái niệm “Lao động nông thôn” là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là quá trình trang bị kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ, thái độ làm việc cho lực lượng lao động nông thôn, để sau khi được đào tạo họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định, nuôi sống được họ đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển của tổ chức nói riêng và của xã hội nói chung. Với những khái niệm vừa nêu có thể thấy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn hàm chứa một số nội dung sau đây: - Lao động nông thôn: là bộ phận dân cư sống ở nông thôn có độ tuổi từ 15 đến 55 đối với nữ và 60 đối với nam, đang tham gia hoạt động kinh tế hay đang thất nghiệp. - Đào tạo nghề cho lao động nông thôn hướng đến nâng cao chất lượng nguồn lao động ở khu vực nông thôn để họ có thu nhập đủ sống và thích nghi với xu hướng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới. - Đào tạo nghề cho lao động nông thôn thích ứng với xu hướng đa dạng hóa ngành, nghề ở nông thôn, trong đó chú trọng đào tạo những nhóm nghề sau: + Đào tạo ngành nghề phục vụ phát triển nông nghiệp hàng hóa theo hướng hiện đại, hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Đào tạo ngành nghề phi nông nghiệp, bao gồm: ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp, nhất là ngành nghề phục vụ phát triển tiểu thủ công nghiệp, thúc đẩy nông nghiệp hàng hóa phát triển; ngành dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực nông thôn, trong đó chú trọng phát triển dịch vụ phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Khái niệm quản lý đào tạo nghề - Khái niệm về “Quản lý”. Theo một cách tiếp cận hệ thống, mọi tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp…) đều có thể được xem như một hệ thống gồm hai phân hệ: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Mỗi hệ thống bao giờ cũng hoạt động trong môi trường nhất định (khách thể quản lý).
Từ đó có thể đưa ra khái niệm: “Quản lý là sự tác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động”. - Khái niệm “Quản lý nhà nước” là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực Nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện, nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. - Khái niệm quản lý đào tạo nghề là kết quả quản lý công tác đào tạo nghề thông qua cách thức tổ chức hoạt động đào tạo nghề, kiểm tra, giám sát chất lượng đội ngũ quản lý và đội ngũ giáo viên, nội dung, chương trình, các loại hình nghề, phương pháp đào tạo nghề, cơ sở vật chất đào tạo nghề, kiểm định chất lượng đào tạo nghề, đạt mục tiêu chiến lược đào tạo nghề, đào tạo chất lượng nguồn nhân lực có chất lượng cao, đảm bảo việc làm, ổn định thu nhập, chuyển dịch cơ cấu nghề nghiệp, phát triển kinh tế - xã hội. Nguyên tắc của quản lý đào tạo nghề tại địa phương a.
Nguyên tắc 1: Nội dung quản lý nhà nước về đào tạo nghề - Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực đào tạo nghề; chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển đào tạo nghề. - Tổ chức bộ máy, cán bộ QLNN trong lĩnh vực đào tạo nghề; chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề. - Tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng dạy nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia. - Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phát triển đào tạo nghề; tổ chức, chỉ đạo công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đào tạo nghề.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực đào tạo nghề và Luật giáo dục nghề nghiệp. Trong đề án này, tôi đề cập đến công tác quản lý đào tạo nghề trên 3 phương diện như sau: - Tổ chức giám sát thực hiện việc kiểm định chất lượng dạy nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề. - Tổ chức giám sát việc thực hiện nội dung, chương trình đào tạo nghề của các cơ sở đào tạo nghề. - Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, qui định về đào tạo nghề cho LĐNT trong lĩnh vực đào tạo nghề.
Nguyên tắc 2: Đánh giá hiệu quả quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn - Rà soát lại năng lực các cơ sở dạy nghề. - Đánh giá công tác xây dựng khung chương trình, kế hoạch của cơ sở đào tạo nghề và công tác tuyên truyền, tư vấn, tuyển sinh và nhu cầu đăng ký, lựa chọn học nghề của LĐNT. - Sự đổi mới linh hoạt về phương thức đào tạo, giáo trình, giáo án, mô đun bài giảng phù hợp với nhận thức thực tế của người học nghề. - Đánh giá công tác đầu tư thiết bị máy móc, mô hình và địa điểm thực hành của cơ sở dạy nghề.
- Đánh giá việc bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên đạt chuẩn theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp. - Đánh giá chất lượng người học, hiệu quả sau đào tạo và trình độ tay nghề và sự tiếp nhận lao động của doanh nghiệp. - Đánh giá việc kiểm tra, giám sát của cơ quan chuyên môn, cơ quan phối hợp trong việc theo dõi cơ sở dạy nghề và người lao động học nghề. - Việc thực hiện công tác thanh toán, quyết toán các chương trình dạy nghề và chính sách hỗ trợ người học nghề theo quy định LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nội dung quản lý đào tạo nghề tại địa phương - Quản lý mạng lưới cơ sở đào tạo nghề. Hiện cả nước có 1.989 cơ sở đào tạo nghề (hay còn gọi là cơ sở Giáo dục nghề nghiệp (GDNN), trong đó có 409 trường cao đẳng, 583 trường trung cấp, 997 trung tâm dạy nghề. Giai đoạn 2011-2015, các cơ sở GDNN đã dạy nghề cho hơn 9,1 triệu người đạt 74% so với kế hoạch, trong đó, trình độ trung cấp, cao đẳng đạt 55% kế hoạch; trình độ sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng đạt 107% kế hoạch. Nhưng trong quá trình thực hiện đã thấy rõ một số bất cập hiện nay trong công tác quản lý đào tạo nghề như tình trạng người học xong không có việc làm hoặc công việc không ổn định, thu nhập không tương xứng; DN vẫn thiếu lao động kỹ thuật có chất lượng, thường xuyên phải đào tạo lại… Trong đó có một số hạn chế lớn của hệ thống GDNN hiện nay.
+ Cụ thể, cơ cấu tuyển sinh GDNN hiện chủ yếu vẫn là trình độ sơ cấp và dưới 3 tháng (chiếm 88%); trình độ trung cấp, cao đẳng chỉ chiếm khoảng 12% so với mục tiêu 22% đặt ra trong Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011-2020. + Tình trạng mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề đào tạo, giữa các vùng miền chậm được khắc phục, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của xã hội. Tuyển sinh GDNN khó khăn, đặc biệt là ở những ngành, nghề nặng nhọc độc hại, ngành nghề năng khiếu. Triển khai đào tạo nghề chất lượng cao (phát triển nghề trọng điểm, trường nghề chất lượng cao và thí điểm đào tạo nghề cấp độ quốc tế, khu vực theo chương trình chuyển giao từ nước ngoài.
+ Mạng lưới cơ sở GDNN nhiều bất cập, chưa phân bố hợp lý giữa các vùng miền, chưa quy hoạch tới từng ngành, nghề, cấp trình độ đào tạo. Quy mô đào tạo của nhiều cơ sở GDNN còn nhỏ, chưa có cơ sở GDNN chất lượng cao, đạt đẳng cấp quốc tế. + Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở GDNN vừa thiếu số lượng vừa yếu về chất lượng và chưa được quan tâm phát triển đúng mức. Một bộ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 phận giáo viên có trình độ đào tạo, kỹ năng nghề, tin học, ngoại ngữ, kỹ năng phát triển chương trình… chưa đáp ứng yêu cầu.