CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Một số khái niệm và thuật ngữ có liên quan 1. Lao động nông thôn Lực lượng lao động được hiểu là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, thực tế có tham gia lao động và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Thực tế trong từng thời kỳ và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi lao động khác nhau. Ở nước ta, theo Bộ Luật lao động (2019) định nghĩa “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động”. Độ tuổi tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi. Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều vùng nông thôn là địa bàn để người nông dân sinh sống và phát triển, là một bộ phận quan trọng cấu thành xã hội, đặc biệt là đối với các quốc gia có sản xuất nông nghiệp là nền tảng.
Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã. Ở Việt Nam hiện có khoảng 70% dân số sinh sống. Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng lao động và hoạt động trong hệ thống kinh tế nông nghiệp. Theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì lao động nông thôn là người trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học, có nghề phù hợp với khu vực nông thôn[9], gồm có: - Người lao động có hộ khẩu thường trú tại xã.
- Người lao động có hộ khẩu thường trú tại phường, thị trấn đang trực tiếp làm nông nghiệp hoặc gia đình có đất nông nghiệp mới bị thu hồi. 6 Trong đó ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác. Như vậy, lao động nông thôn (LĐNT) là một bộ phận của những nguồn lao động xã hội gồm toàn bộ những người lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia hoạt động trong nền kinh tế quốc dân thuộc khu vực nông thôn. Cụ thể hơn nguồn lao động nông thôn bao gồm những người từ dủ 15 tuổi trở lên sống ở nông thôn đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực như: nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp xây dựng, dịch vụ, hoặc các ngành phi nông nghiệp khác và những người trong độ tuổi có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh tế.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn Nghề là một dạng xác định các hoạt động trong hệ thống phân công lao động xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định. Đào tạo nghề là thuật ngữ mô tả một hoạt động giáo dục - đào tạo đặc thù gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau không thể tách rời nhau gồm: Dạy nghề và học nghề. Trong nhiều trường hợp dạy nghề và ĐTN được đồng nhất với nhau trong diễn đạt của các văn bản. Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp [19].
Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo 7 đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ những góc nhìn khác nhau, có thể hiểu: Đào tạo nghề là một quá trình giáo dục - đào tạo diễn ra từ khi bắt đầu đến khi kết thúc khóa học, tại đây người dạy truyền đạt kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giúp cho người học định hướng được thái độ, nhân cách theo hướng chuẩn mực; quá trình này diễn ra liên tục, có sự biến đổi để phù hợp với đối tượng học tập và môi trường. Song song với những hoạt động của người dạy, người học cùng tham gia vào quá trình học tập bằng cách đọc, nghe, quan sát, thực hành, thực tập để tích luỹ kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ nghề nghiệp tương xứng yêu cầu của vị trí công việc thuộc lĩnh vực, ngành nghề được đào tạo đang tồn tại trong xã hội. ĐTN đề cao việc trang bị kỹ năng nghề nghiệp hơn là việc trang bị kiến thức hàn lâm.
Như vậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Hoạt động dạy nghề trong các cơ sở dạy nghề, lớp dạy nghề nhằm truyền đạt kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành cho người học nghề là lao động nông thôn, để người học có được trình độ, kỹ năng, kỹ xảo và đạt được những tiêu chuẩn nhất định của một nghề hoặc nhiều nghề đáp ứng yêu cầu việc làm của thị trường lao động. Hay đào tạo nghề cho lao động nông thôn: là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho LĐNT để người học nghề sau khi tốt nghiệp có thể hành nghề (tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm) nhằm giúp cho LĐNT cải thiện thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống phù hợp với sự phát triển của xã hội.3 Đặc điểm của đào tạo nghề cho lao động nông thôn * Đối tượng tham gia học nghề: Là lao động nông thôn, chủ yếu chưa qua đào tạo, trình độ văn hóa không đều, các lớp học với nhiều đối tượng 8 khác nhau như người nghèo, người tàn tật, người dân tộc thiểu số,…độ tuổi không đồng đều. - Chịu khó, cần cù LĐ. Đây là một đặc điểm rất tích cực của LLLĐNT.
Chính sự chịu khó, cần cù LĐ đã giúp họ giảm thiểu rủi ro khi tham gia vào hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn, thông thường gắn liền hoặc rất gần với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. - Có nhiều kinh nghiệm thực tế trong LĐ sản xuất. Thông thường, LĐNT gắn bó, tiếp cận với nghề từ nhỏ, có sự kế thừa theo họ tộc, huyết thống nên được thừa hưởng những kinh nghiệm trong LĐ sản xuất từ những thế hệ trước truyền lại. - Ham học hỏi.
Do luôn tồn tại một khoảng cách nhất định giữa thành thị và nông thôn về mọi mặt. Theo bản năng con người ta luôn có mong muốn vươn lên và đó là động lực làm cho LĐNT mong muốn có thêm kiến thức để tiến gần đến mức sống, trình độ của khu vực thành thị. - Trình độ, thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thấp. Điều này ảnh hưởng đến năng suất LĐ và trình độ phát triển kinh tế.
- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị trường thấp. Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của LĐ. - LĐNT nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động. Để góp phần đạt mục tiêu nâng cao CLĐTN cho LĐNT, đòi hỏi cần phải có những điều chỉnh nhất định để phù hợp với đối tượng đào tạo; phát huy và tận dụng những đặc điểm có lợi và hạn chế, khắc phục những mặt hạn chế.
* Ngành nghề đào tạo đa dạng: trình độ đào tạo là sơ cấp nghề và dạy nghề dưới 3 tháng, phần lớn là các nghề đào tạo là nghề đơn giản, các nghề nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ, thời gian thực hành nghề chiếm tỷ lệ trên 80%. 9 Ngoài 164 nghề đã được các cơ quan quản lý nhà nước về ĐTN, còn rất nhiều ngành nghề khác chưa được đưa chính thức vào hệ thống chương trình ĐTN; số nghề này giúp cho người học có thể tìm cho mình cơ hội mưu sinh. Tuy nhiên, đối với hoạt động ĐTN cho LĐNT có thể chia làm 2 nhóm nghề chính: nhóm nghề nông nghiệp và nghề phi nông nghiệp. - Với nhóm nghề nông nghiệp, có nhiều thuận lợi trong việc nâng cao CLĐTN cho LĐNT bởi đối tượng được đào tạo đã có nhiều kinh nghiệm thực tế qua LĐ sản xuất.
- Với nhóm nghề phi nông nghiệp, việc nâng cao chất lượng ĐTN cho LĐNT sẽ gặp nhiều khó khăn do còn nhiều nghề mới mẻ với người được đào tạo; trong khi khả năng tiếp cận kiến thức mới, sự bảo thủ, ngại thay đổi là một trong những đặc điểm mang tính bản chất của đối tượng đào tạo * Phương thức đào tạo chủ yếu là lưu động: đào tạo tại các thôn, bản, thời gian đào tạo linh hoạt theo nhu cầu của người học, theo mùa vụ tạo sự thuận lợi cho người học, phương pháp đào tạo chủ yếu là hướng dẫn thực hành và truyền nghề. * Kinh phí đào tạo: chủ yếu do ngân sách nhà nước hỗ trợ, LĐNT không phải đóng học phí, hoặc đóng ở mức thấp. * Cơ sở tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn: đa dạng, phong phú, các cơ sở đủ điều kiện đều được tham gia đào tạo, từ các trường cao đẳng, trung cấp nghề, các trung tâm dạy nghề, cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp… Tuy nhiên, trong quá trình ĐTN cho LĐNT, ngoài đào tạo những nghề nông nghiệp còn đào tạo cả nhóm nghề phi nông nghiệp. Chính điều kiện sẵn có tại địa phương là tiền đề thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng ĐTN cho LĐNT khi triển khai những nhóm nghề nông nghiệp như các phần dạy thực hành, trải nghiệm thực tế để nâng cao kỹ năng nghề.
Nhưng đối với việc triển khai đào tạo những nghề phi nông nghiệp sẽ gặp rất khó khăn do thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà xưởng, máy móc.