CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ 1. Khái niệm cán bộ, công tác cán bộ, cấp cơ sở a) Một số khái niệm - Cán bộ: Nghĩa của từ cán bộ nhìn từ góc độ chiết tự, “Cán” là gánh vác, cán đáng một công việc nhất định trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị, trong một cộng đồng xã hội. “Bộ” là bộ phận, một phần trong toàn thể. Cán bộ có thể hiểu là đảm nhận một bộ phận, đảm đương một trọng trách nhất định trong hệ thống tổ chức.
Tại tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết năm 1947, Người đã đề ra khái niệm về cán bộ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Những quan điểm, chỉ dẫn của Người là kim chỉ nam cho Đảng, Nhà nước ta trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là trong công tác xây dựng xây dựng lề lối, tác phong, chuẩn mực đạo đức, năng lực làm việc. của đội ngũ cán bộ. Điều này có ý nghĩa lớn lao đối với quá trình cải cách hành chính (CCHC) ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong tác phẩm “Từ điển tiếng Việt 2003”, tác giả Hoàng Phê đã đưa định nghĩa về cán bộ: Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước. Cán bộ Nhà nước, cán bộ khoa học, cán bộ chính trị. Tuy nhiên, do tính chất chính trị nên “cán bộ” được quy định cụ thể hơn trong Luật cán bộ, công chức (số 22/2008/QH12) của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (ban hành ngày 13/11/2008) quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở 13 quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh , ở xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước”. Như vậy, cán bộ được hiểu theo nghĩa chung nhất là người công dân Việt Nam, có chức vụ lãnh đạo, quản lý, làm việc trong các cơ quan, tổ chức Đảng ủy, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội hoặc đảm nhiệm 1 chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (phường, thị trấn), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; hình thành từ cơ chế bầu cử, tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt và được phân công công tác… có trách nhiệm quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả đường lối, chính sách của Đảng, bổ sung, hoàn thiện đường lối, chính sách.
- Công tác cán bộ: Công tác cán bộ là tổng thể các biện pháp của các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể trong xây dựng tiêu chuẩn cán bộ; đánh giá cán bộ; quy hoạch cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; luân chuyển, điều động cán bộ; bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,… nhằm phát huy năng lực đội ngũ cán bộ theo hướng bố trí số lượng hợp lý, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ (vừa hồng vừa chuyên), đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu hoạt động của hệ thống chính trị trong tình hình mới. Công tác cán bộ bao gồm: việc xác định đường lối, chủ trương, chính sách về cán bộ và công tác cán bộ của Đảng; xác định tiêu chuẩn, cơ cấu cán bộ và đội ngũ cán bộ, những tiêu chí nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ và thực hiện đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ: quản lý, đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, bảo vệ chính trị nội bộ và thực hiện chính sách cán bộ. b) Vai trò, đặc điểm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở Hệ thống tổ chức quản lý hành chính của Nhà nước ta đến nay gồm 4 cấp: Trung ương - tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương - quận, huyện, thị xã, thành 14 phố trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc thành phố - Xã, phường, thị trấn. Hệ thống quản lý này được tổ chức theo một ngành dọc: Từ trên xuống là trung ương - địa phương và cơ sở; từ dưới lên là cơ sở - địa phương và Trung ương.
Vậy, nói đến cấp xã, phường. thị trấn là nói đến cấp cơ sở. Cấp cơ sở về cơ bản là mô hình thu nhỏ của một hệ thống chính trị tổng thể cấp trên, gồm có: Đảng bộ cơ sở, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các đoàn thể quần chúng trong 1 địa giới hành chính và số dân cư của xã/phường/thị trấn đó quản lý. Chính quyền cơ sở có tư cách pháp nhân rõ ràng, được pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý nhằm thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cấp cơ sở trong một xã (phường, thị trấn) thuộc tỉnh hoặc thành phố của một quốc gia.
Trong cơ cấu đó, Đảng bộ cơ sở đóng vai trò là hạt nhân lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các đoàn thể chính trị - xã hội, nắm vai trò lãnh đạo việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Những nguyên tắc trong việc hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở: + Đảng bộ cơ sở, Ban Chấp hành Đảng bộ (Đảng ủy) cơ sở lãnh đạo toàn diện bằng cách ban hành các nghị quyết, định hướng các nhiệm vụ trọng tâm, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp cơ sở, kiếm tra cán bộ, công chức về việc thực hiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời lựa chon nhân sự để giới thiệu vào các vị trí trong bộ máy chính quyền cấp cơ sở. + Chính quyền địa phương (HĐND và UBND) là nơi trực tiếp điều hành, quản lý xã hội duy trì trật tự, an ninh, ổn định chính trị; tổ chức, triển khai thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đồng thời cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng bộ cơ sở bằng các nghị quyết, quyết định. 15 + Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị xã hội có vai trò thay mặt nhân dân tham gia vào công tác xây dựng Đảng, quản lý Nhà nước ở địa phương và giám sát công tác thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp.
Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc cùng các đoàn thể có vai trò tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ở cơ sở, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc tại địa phương. Như vậy, cấp cơ sở là cấp cuối cùng trong hệ thống chính trị các cấp (Trung ương, Tỉnh - thành phố trực thuộc Trung ương, Quận - Huyện - Thành phố trực thuộc Tỉnh, Xã - Phường - Thị trấn), nhưng vẫn mang đầy đủ những đặc trưng của bộ máy quyền lực chính trị trong hệ thống chính trị ở nước ta, bao gồm các tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân, được vận hành theo cơ chế: Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý, nhân dân làm chủ và không ngừng hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. - Cán bộ cấp cơ sở Cán bộ cấp cơ sở là toàn bộ là những người được bầu cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ hoặc chức danh nào đó trong hệ thống chính trị ở cấp xã (phường, thị trấn) có trách nhiệm thực hiện lãnh đạo, tổ chức, điều hành, triển khai các nhiệm vụ ở địa phương và phải chịu trách nhiệm về việc làm của mình trước tập thể, trước nhân dân và trước cấp trên của mình. Ngày 13/11/2008, Quốc hội khóa XII đã thông qua dự thảo và ban hành Luật Cán bộ Công chức.
Trên cơ sở đó, ngày 22/10/2009, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP “Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã (phường, thị trấn)”. Theo đó, chính quyền cơ sở các cấp gồm có các chức danh cán bộ, công chức sau: + Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy xã/phường/thị trấn. 16 + Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND xã/phường/thị trấn. + Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã/phường/thị trấn.
+ Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã/phường/thị trấn. + Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản xã/phường/thị trấn. + Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ xã/phường/thị trấn. + Chủ tịch Hội Nông dân xã (áp dụng với đơn vị có có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam và có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp).
+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã/phường/thị trấn. + Trưởng Công an xã/phường/thị trấn. + Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự xã/phường/thị trấn. + Công chức Văn phòng - thống kê xã/phường/thị trấn.
+ Công chức Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (áp dụng với thị trấn, phường) hoặc công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); + Công chức Tài chính - kế toán xã/phường/thị trấn. + Công chức Tư pháp - hộ tịch xã/phường/thị trấn; + Công chức Văn hóa - xã hội xã/phường/thị trấn. - Số lượng CBCC chính quyền cấp cơ sở được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp cơ sở, cụ thể như sau: + Chính quyền cấp cơ sở loại 1: không quá 25 người; + Chính quyền cấp cơ sở loại 2: không quá 23 người; + Chính quyền cấp cơ sở loại 3: không quá 21 người. - Số cán bộ hoạt động không chuyên trách ở cấp cơ sở: + Chính quyền cấp cơ sở loại 1: không quá 22 người.
+ Chính quyền cấp cơ sở loại 2: không quá 20 người. + Chính quyền cấp cơ sở loại 3: không quá 19 người. Khái quát quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về công tác cán bộ 17 - Khái quát quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ. Quán triệt sâu sắc tinh thần của Chủ nghĩa Mac - Lenin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác cán bộ của Đảng ta, đồng thời Người cho rằng đó là cái gốc của sự nghiệp cách mạng.