Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Sông Công là trung tâm kinh tế, công nghiệp trọng điểm phía Nam của tỉnh Thái Nguyên, giữ vai trò đô thị bản lề kết nối trung chuyển hàng hóa với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các ngành kinh tế của thành phố duy trì mức bình quân ấn tượng 18,1%/năm, thu ngân sách nhà nước tăng bình quân 31,5%/năm, và thu nhập bình quân đầu người đạt 95 triệu đồng vào cuối năm 2023. Song hành với sự bứt phá về kinh tế, thành phố Sông Công từng vươn lên xếp thứ nhất năm 2021 và xếp thứ tư năm 2022 về Chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh cấp sở, ban, ngành và địa phương (DDCI). Thành phố hiện đang quản lý 2 khu công nghiệp tập trung cùng 4 cụm công nghiệp với quy mô đất phát triển công nghiệp lên tới gần 1.000 ha, đồng thời triển khai trên 100 đồ án quy hoạch đô thị.

Sự phát triển đô thị hóa nhanh chóng và yêu cầu hiện thực hóa mục tiêu trở thành đô thị loại II theo Quyết định số 241/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đặt ra áp lực nặng nề lên bộ máy hành chính công quyền. Để vận hành thông suốt nền công vụ, vai trò của đội ngũ công chức trực thuộc 12 cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân thành phố và 11 xã, phường trực thuộc mang tính chất quyết định. Tuy nhiên, trước bối cảnh tinh giản biên chế từ 129 chỉ tiêu năm 2019 xuống còn 126 chỉ tiêu năm 2023, công tác bồi dưỡng công chức tại địa phương vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: chương trình đào tạo còn chậm đổi mới, việc rà soát nhu cầu chưa sát với vị trí việc làm, và hiện tượng trùng lặp nội dung vẫn diễn ra.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Khoa học quản lý của tác giả Nguyễn Trung Kiên, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đoàn Văn Tình tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên (2024), tập trung khảo sát, đánh giá toàn diện công tác bồi dưỡng công chức giai đoạn 2019 - 2023. Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học để tối ưu hóa nguồn lực công vụ, nâng cao chỉ số hài lòng của người dân, và đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp giữa Lý thuyết Quản trị nguồn nhân lực khu vực công (Public Human Resource Management) và Mô hình Đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của nền hành chính công vụ Việt Nam. Trọng tâm của khung phân tích bám sát hệ thống văn bản pháp lý then chốt: Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, Nghị định số 89/2021/NĐ-CP (được hệ thống hóa tại Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BNV năm 2022), và Thông tư số 10/2017/TT-BNV quy định tiêu chí đánh giá chất lượng bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức.

Mô hình nghiên cứu triển khai hệ thống 5 tiêu chuẩn đánh giá đa chiều bao gồm: chất lượng chương trình học, năng lực của học viên, phẩm chất và phương pháp của giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất, và hiệu quả ứng dụng kiến thức vào thực thi công vụ. Các khái niệm cốt lõi được định nghĩa rõ ràng gồm: công chức, bồi dưỡng công chức, vị trí việc làm, khung năng lực và hiệu lực thực thi công vụ. Nghiên cứu áp dụng nguyên tắc quản lý mục tiêu SMART (cụ thể, đo lường được, khả thi, thực tế, có thời hạn) kết hợp với công thức thiết kế nội dung đào tạo PRACTICE (tính thực tế, sự liên quan, khả năng áp dụng, tính cập nhật, giới hạn thời gian, tầm quan trọng, tính thử thách và tính tuyển chọn). Theo khung quy chuẩn pháp luật, thời lượng bồi dưỡng kiến thức bắt buộc tối thiểu phải đạt 01 tuần/01 năm (tương đương 05 ngày học với 40 tiết học), phân bổ đều trong 4 mảng nội dung: lý luận chính trị; quốc phòng - an ninh; kiến thức quản lý nhà nước; và nghiệp vụ chuyên ngành theo chức danh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp chặt chẽ giữa tài liệu thứ cấp và dữ liệu thực chứng sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp bao gồm toàn bộ báo cáo tổng kết biên chế, kế hoạch bồi dưỡng nhân sự của Ủy ban nhân dân thành phố Sông Công giai đoạn 2019 - 2023 và hệ thống các văn bản của Ban Chấp hành Trung ương Đảng như Nghị quyết số 26-NQ/TW và Nghị quyết số 76/NQ-CP.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả tiến hành điều tra khảo sát định lượng với cỡ mẫu ban đầu phát ra là 110 phiếu khảo sát gửi tới đội ngũ công chức thuộc các phòng ban chuyên môn và Ủy ban nhân dân các xã, phường. Số lượng phiếu thu về là 103 phiếu, đạt tỷ lệ phản hồi 93,6%. Sau quá trình làm sạch dữ liệu nhằm loại bỏ những phiếu không hợp lệ hoặc thiếu thông tin, tác giả giữ lại 95 phiếu khảo sát đạt chuẩn (chiếm 92,23% tổng số phiếu thu về) để đưa vào quy trình xử lý dữ liệu. Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là lấy mẫu thuận tiện kết hợp kỹ thuật "quả bóng tuyết" (snowball sampling). Lý do lựa chọn kỹ thuật này là để đảm bảo tiếp cận sâu vào các nhóm công chức trực tiếp phụ trách các lĩnh vực chuyên môn then chốt và các chức danh hành chính cấp cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu định tính được tiến hành qua 2 giai đoạn: giai đoạn 1 từ tháng 10/2023 đến tháng 01/2024, và giai đoạn 2 bổ sung vào tháng 03/2024. Tác giả thực hiện phỏng vấn sâu đối với 02 nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực quản lý công, đồng thời tổ chức các phiên thảo luận nhóm tập trung (focus groups) với các công chức lãnh đạo phòng ban và công chức chuyên trách cấp xã. Dữ liệu khảo sát được phân tích thông qua kỹ thuật thống kê mô tả, kỹ thuật so sánh tỷ lệ phần trăm và đối chiếu định tính, giúp làm sáng tỏ mối liên hệ giữa chính sách đào tạo với năng lực thực thi công vụ trên thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô biên chế công chức của thành phố Sông Công được quản lý chặt chẽ theo lộ trình tinh giản nhưng vẫn bảo đảm đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Tổng chỉ tiêu biên chế được giao giảm từ 129 người năm 2019 xuống 126 người trong giai đoạn 2021 - 2023. Số công chức có mặt thực tế tăng từ 117 người năm 2019 lên 124 người năm 2023 (đạt tỷ lệ lấp đầy 98,4% chỉ tiêu giao). Tỷ lệ sử dụng biên chế tăng 5,98% phản ánh nỗ lực tuyển dụng bổ sung để giải quyết khối lượng công việc ngày càng lớn tại 12 cơ quan chuyên môn và 11 xã, phường.

Thứ hai, cơ cấu công chức lãnh đạo tại các cơ quan chuyên môn thành phố Sông Công chiếm tỷ trọng rất lớn. Trong giai đoạn 2019 - 2023, tỷ lệ công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp phòng luôn duy trì ở mức cao, dao động từ 41,1% đến 44,8% tổng số công chức có mặt. Tính đến năm 2023, trong tổng số 72 công chức cấp thành phố có tới 32 người giữ chức vụ lãnh đạo (chiếm 44,4%). Tỷ lệ này khẳng định yêu cầu cấp bách phải thường xuyên bồi dưỡng kỹ năng quản trị công hiện đại, kỹ năng ra quyết định và đạo đức công vụ cho lực lượng cán bộ chủ chốt.

Thứ ba, việc bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh và ngạch công chức đạt kết quả tốt nhưng bồi dưỡng theo vị trí việc làm còn nhiều hạn chế. Trong giai đoạn khảo sát, 100% công chức lãnh đạo cấp phòng đáp ứng trình độ chuyên môn đại học và lý luận chính trị từ trung cấp trở lên. Tuy nhiên, kết quả khảo sát từ 95 phiếu hợp lệ chỉ ra rằng các lớp tập huấn kỹ năng chuyên sâu theo từng chức danh (như Địa chính - Xây dựng, Tài chính - Kế toán, Tư pháp - Hộ tịch) chưa diễn ra thường xuyên; có tới trên 40% người được hỏi cho rằng kiến thức đào tạo đôi khi còn nặng về lý luận, tính cập nhật văn bản mới chưa kịp thời.

Thứ tư, công tác đánh giá hiệu quả sau bồi dưỡng còn mang tính hình thức, chủ yếu dừng lại ở việc chấm điểm cuối khóa và cấp chứng chỉ với tỷ lệ hoàn thành trên 95%. Hệ thống quản lý của thành phố chưa xây dựng được cơ chế đo lường sự thay đổi trong kết quả thực hiện nhiệm vụ (KPIs) của công chức sau khi trở về vị trí công tác, khiến mức độ tác động thực chất của hoạt động đào tạo vào cải cách hành chính chưa được định lượng rõ ràng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên bắt nguồn từ việc xác định nhu cầu đào tạo (TNA) chưa được thực hiện một cách khoa học. Các cơ quan chuyên môn thường đề xuất danh sách cử cán bộ đi học dựa trên chỉ tiêu phân bổ từ trên xuống thay vì xuất phát từ khoảng trống năng lực của vị trí việc làm. Áp lực công việc thường nhật tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả rất lớn khi thành phố tiếp nhận gần 90 dự án đầu tư và triển khai các quy hoạch mở rộng không gian đô thị, dẫn đến tình trạng nhiều công chức khó thu xếp thời gian tham gia các khóa học dài ngày.

Khi so sánh với kinh nghiệm của huyện Lập Thạch (tỉnh Vĩnh Phúc), nơi đã đầu tư hơn 20 tỷ đồng xây dựng Trung tâm Chính trị và nâng tỷ lệ công chức cấp xã có trình độ đại học đạt 98,1%, hay bài học từ huyện Ân Thi (tỉnh Hưng Yên) với hơn 30.530 lượt cán bộ được bồi dưỡng bài bản trong 5 năm, có thể thấy thành phố Sông Công cần quyết liệt hơn trong việc bố trí nguồn ngân sách thỏa đáng và đa dạng hóa hình thức đào tạo.

Để phản ánh trực quan các dữ liệu nghiên cứu, thực trạng biên chế và kết quả khảo sát có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột kép so sánh chỉ tiêu biên chế được giao với biên chế có mặt giai đoạn 2019 - 2023, kết hợp với bảng số liệu ma trận thể hiện mức độ tương quan giữa 4 nhóm nội dung bồi dưỡng và mức độ hài lòng của 95 công chức. Cách biểu diễn này giúp các nhà quản trị nhân sự dễ dàng nhận diện những vị trí việc làm đang thiếu hụt kỹ năng tác nghiệp thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng công chức, xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp phục vụ phát triển đô thị loại II, luận văn xác định các nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, chuẩn hóa và hoàn thiện hệ thống danh mục khung năng lực vị trí việc làm cho toàn bộ 12 cơ quan chuyên môn và 11 xã, phường. Ban Thường vụ Thành ủy và Ủy ban nhân dân thành phố Sông Công chỉ đạo Phòng Nội vụ chủ trì rà soát, phấn đấu đến hết quý II/2025 có 100% vị trí việc làm được lượng hóa tiêu chí năng lực rõ ràng, làm căn cứ bắt buộc khi lập kế hoạch bồi dưỡng hàng năm.

Thứ hai, đổi mới căn bản chương trình, tài liệu và phương pháp giảng dạy theo định hướng PRACTICE. Ủy ban nhân dân thành phố phối hợp với Trường Chính trị tỉnh Thái Nguyên và các học viện chuyên ngành giảm thiểu ít nhất 25% các bài giảng lý thuyết hàn lâm, nâng tỷ lượng thời gian thảo luận tình huống, xử lý hồ sơ thực tế lên tối thiểu 40% tổng thời lượng chương trình. Thời gian hoàn thành việc điều chỉnh đề cương bài giảng thực hiện ngay trong năm 2025.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và nền tảng số trong tổ chức bồi dưỡng. Ủy ban nhân dân thành phố giao Phòng Văn hóa - Thông tin phối hợp cùng Phòng Nội vụ triển khai hình thức học tập trực tuyến (E-learning) bán tập trung, phấn đấu đạt tỷ lệ 30% khóa học chuyên ngành ngắn hạn được số hóa vào năm 2026. Giải pháp này giúp tiết kiệm khoảng 15% chi phí tổ chức lớp học tập trung và tạo điều kiện cho công chức chủ động học tập mà không gián đoạn công việc chuyên môn.

Thứ tư, thiết lập bộ công cụ đánh giá tác động sau đào tạo dựa trên Thông tư số 10/2017/TT-BNV. Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc đánh giá năng lực thực thi công vụ định kỳ sau 03 tháng và 06 tháng kể từ khi công chức kết thúc khóa bồi dưỡng. Mục tiêu đặt ra là từ năm 2025 đến năm 2030, có ít nhất 85% công chức sau đào tạo được ghi nhận nâng cao hiệu suất xử lý công việc và giảm tỷ lệ trễ hạn hồ sơ hành chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, là nguồn tư liệu hữu ích cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, lãnh đạo Thành ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, thành phố. Luận văn cung cấp bức tranh dữ liệu toàn diện về thực trạng sử dụng biên chế và chất lượng đội ngũ công chức, hỗ trợ trực tiếp cho công tác hoạch định nghị quyết chuyên đề về phát triển nhân lực công vụ đến năm 2030.

Thứ hai, cán bộ quản lý nhân sự tại Phòng Nội vụ và Ban Tổ chức cấp ủy địa phương. Công trình cung cấp quy trình khảo sát nhu cầu đào tạo (TNA) chuẩn hóa, quy trình 3 bước tổ chức bồi dưỡng và hệ thống tiêu chí định lượng, giúp các chuyên viên nhân sự áp dụng trực tiếp vào việc lập kế hoạch và thanh quyết toán kinh phí bồi dưỡng hàng năm.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Khoa học quản lý, Quản trị công, Luật Hành chính. Tài liệu đem lại nguồn dữ liệu thực chứng tin cậy với 95 mẫu khảo sát chuẩn xác, 5 năm số liệu thứ cấp tại một đô thị công nghiệp đang chuyển mình, làm case study điển hình phục vụ giảng dạy các học phần về Quản lý công chức, viên chức.

Thứ tư, đội ngũ công chức hành chính tại các cơ quan chuyên môn và Ủy ban nhân dân cấp xã. Nghiên cứu giúp mỗi công chức nhận thức rõ các tiêu chuẩn năng lực cần có theo vị trí việc làm đảm nhận, từ đó chủ động xây dựng lộ trình tự học tập, rèn luyện kỹ năng thực thi công vụ nhằm đáp ứng tiêu chuẩn bổ nhiệm, nâng ngạch.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động bồi dưỡng công chức tại thành phố Sông Công dựa trên những căn cứ pháp lý cốt lõi nào? Hoạt động bồi dưỡng được xây dựng dựa trên Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Nghị định số 101/2017/NĐ-CP, Nghị định số 89/2021/NĐ-CP được hợp nhất tại Văn bản số 06/VBHN-BNV năm 2022 của Bộ Nội vụ, cùng Thông tư số 10/2017/TT-BNV. Tại địa phương, công tác này gắn liền với các nghị quyết về cải cách hành chính và phát triển đô thị Sông Công thành đô thị loại II.

Cỡ mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp của luận văn được tiến hành ra sao? Tác giả đã phát ra 110 phiếu khảo sát và thu về 103 phiếu (đạt tỷ lệ 93,6%). Sau khi kiểm tra, loại bỏ các phiếu không hợp lệ, 95 phiếu đạt chuẩn (chiếm 92,23% số phiếu thu về) được đưa vào phân tích thống kê. Kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện kết hợp quả bóng tuyết được áp dụng để tiếp cận chính xác các công chức đang trực tiếp thực thi nhiệm vụ.

Tại sao tỷ lệ công chức giữ chức danh lãnh đạo cấp phòng tại Sông Công lại chiếm tỷ trọng cao? Số liệu thống kê giai đoạn 2019 - 2023 cho thấy tỷ lệ công chức lãnh đạo cấp phòng dao động từ 41,1% đến 44,8% (năm 2023 là 32 trên tổng số 72 người). Lý do là Ủy ban nhân dân thành phố duy trì 12 cơ quan chuyên môn, mỗi phòng ban đều được bố trí đủ cấp trưởng và bình quân từ 1 đến 2 cấp phó theo đúng quy định tại Nghị định số 37/2014/NĐ-CP và Nghị định số 108/2020/NĐ-CP.

Luận văn chỉ ra những hạn chế nổi bật nào trong công tác bồi dưỡng công chức hiện nay? Hạn chế lớn nhất là việc bồi dưỡng theo vị trí việc làm chưa thực sự sâu sát; khảo sát nhu cầu đào tạo còn mang tính hình thức; nội dung một số chương trình còn trùng lặp và nặng về lý thuyết. Đồng thời, việc đánh giá chất lượng sau bồi dưỡng chủ yếu dựa vào tỷ lệ cấp chứng chỉ (trên 95%) mà chưa đo lường sự cải thiện về năng suất công vụ.

Làm thế nào để nâng cao tính ứng dụng thực tế của các khóa bồi dưỡng cho công chức cấp xã? Cần xây dựng chương trình theo nguyên tắc PRACTICE, tập trung giải quyết 6 vị trí chức danh công chức cấp xã trọng yếu như Địa chính - Xây dựng, Tư pháp - Hộ tịch, Tài chính - Kế toán. Thay vì thuyết giảng một chiều, khóa học cần tăng cường thời lượng giải quyết tình huống thực tế, đối thoại trực tiếp và hướng dẫn xử lý hồ sơ hành chính trên môi trường điện tử.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý thuyết về bồi dưỡng nguồn nhân lực công vụ, kết hợp chặt chẽ giữa quy chuẩn pháp luật Việt Nam và các nguyên tắc quản trị hiện đại theo mô hình SMART và PRACTICE.
  • Phân tích bức tranh thực trạng biên chế công chức thành phố Sông Công giai đoạn 2019 - 2023 với 126 chỉ tiêu được giao, chỉ rõ đặc điểm cơ cấu với 44,4% công chức giữ cương vị lãnh đạo cấp phòng năm 2023.
  • Sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm chuẩn xác với 95 phiếu khảo sát hợp lệ và 2 đợt nghiên cứu định tính, chỉ ra khoảng trống giữa đào tạo lý thuyết và yêu cầu kỹ năng thực tiễn theo vị trí việc làm.
  • Xác lập hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với lộ trình thời gian 2024 - 2026 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số và công cụ đánh giá tác động sau đào tạo theo Thông tư số 10/2017/TT-BNV.
  • Khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa chất lượng nguồn nhân lực công vụ với sự phát triển kinh tế xã hội và mục tiêu đưa thành phố Sông Công trở thành đô thị loại II văn minh, hiện đại.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi chính quyền thành phố Sông Công khẩn trương ban hành khung năng lực vị trí việc làm trong năm 2025, tiến tới chuẩn hóa 100% công chức theo khung vị trí việc làm vào năm 2026. Lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu và đội ngũ cán bộ công chức hãy khai thác sâu các phát hiện của luận văn để áp dụng vào thực tiễn quản trị, góp phần xây dựng một nền công vụ liêm chính, chuyên nghiệp và phục vụ đắc lực cho nhân dân.