CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIÊN CỦA CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN 1.NHỮNG VAN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG THÔN.NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN.Công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) Thuật ngữ CNH đã xuất hiện từ lâu và đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong các từ điển nước ngoài cũng như trong nước. Việc đưa ra một thuật ngữ chính xác nhất, chung nhất thực sự rất khó khăn. Trên thực tế, mỗi nước hay môi tổ chức quốc tế đều đưa ra định nghĩa của riêng mình về CNH, HĐH, nhưng cách hiểu lại không thống nhất. Trong Đại Bách khoa Toàn thư nước Pháp quan niệm: “CNH là đưa một đặc tính công nghiệp cho một hoạt động nào đó, hoặc trang bị các nhà máy hay các loại công nghiệp cho một vùng, một quốc gia”.
Mặc dù quan niệm này chỉ ra được đặc tính công nghiệp là cơ sở của CNH, HĐH, là phương thức để phát triển các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân, nhưng nó chưa cho thấy được mục đích của CNH là gì, mà thực chất thiên về phát triển công nghiệp đơn thuần, và nó không chỉ rõ được CNH là một quá trình lâu dai. — Trước đây ở Liên Xô (cũ) trong các tài liệu sách báo đã viết: “CNH là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp. Đó là sự phát triển công nghiệp nặng với ngành trung tâm là chế tạo máy”. Có thể khẳng định quan niệm này đã chỉ ra được vai trò của công nghiệp cơ khí đối với ngành nông nghiệp.
Trong giai đoạn hiện nay, công nghiệp cơ khí chỉ là một trong các ngành đóng vai trò là phương tiện để thực hiện quá trình CNH, HDH mà thôi, trong khi các ngành như công nghệ sinh học, tự động hoá v.đang ngày càng chiếm vị trí hàng đầu trong quá trình CMH, HĐH của mỗi quốc gia. Có quan niệm cho rang: “CNH là một quá trình được đánh dấu bang sự chuyển từ một nền kinh tế là nông nghiệp sang một nền kinh tế được gọi là corg nghiệp” (Mazlish B.The Breakdow of Connections anh Mordern Development. World Development, 1991, Vol. Quan niém nay đã chi ra được mục đích của CNH, HDH, nhưng chưa nêu rõ phương thức để ‘huc hiện được mục đích đó.
Có một cách tiếp cận đã lẫn lộn giữa kết quả với nội dung của quá trình CNH, HĐH khi cho rang: “CNH, HĐH là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Riêng trong công nghiệp lại diễn ra quá trình chuyển dịch từ công nghiệp khai thác sang công nghiệp chế biến. Một quan niệm khác cũng rất đáng chú ý khi định nghĩa về CNH. Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO) đã đưa ra khái niện CNH và xem nó là “một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này, một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phét triển một cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở trong nước với kỹ thuật hiện dai.
Đặc điểm cơ cấu kinh tế này là có một bộ phận chế biến luôn thay đổi để sản xuất những tư liệu sản xuất và hàng hoá tiêu dùng và có khả năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế phát triển với nhịp độ cao và bảo đảm đạt tới sự tiến - bộ vẻ nền kinh tế và xã hội”. Đây thực sự là một khái niệm đầy đủ và tổng quát hơn so với các khái niệm trên, bởi nó đã chỉ ra được CNH là một quá trình lâu dài, chỉ ra được mục tiêu của CNH, vai trò quan trọng của ngành chế biến và đặc biệt CNH không chỉ phát triển đơn thuần về kinh tế mà phát triển cả mit xã hội. Sở di có nhiều quan niệm khác nhau như vậy là vì trên thực tế, đây là một quá trình có nội dung phức tạp, bao gồm rất nhiều mặt, nhiều mối quan hệ. Tuy theo góc độ nhìn nhận mà người ta nhấn mạnh mat này hay mặt khác của quá trình và dua ra những định nghĩa khác nhau về CNH.
Trong Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã nêu ra một định nghĩa về CNH, HĐH rất khái quát và chính xác, đã được ghi vào trong Từ điển Bách khoa Việt Nam. Định nghĩa nêu rõ: “CNH, HĐH, hiểu theo bản chất của nó, là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao hơn”. Đây được xem là một định nghĩa rõ ràng và toàn diện nhất về khái niệm CNH, HĐH. Định nghĩa này cũng cho thấy được CNH gắn liền với HĐH, và HĐH chỉ thực hiện được khi tiến hành CNH.
Đối với nước ta, CNH, HĐH là một quá trình tất yếu phải trải qua, nhằm cải biến thành nước công nghiệp, có cơ sở vật chất hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất ngày càng tiến bộ, trang bị và tái trang bị công nghệ ngày càng hiện đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, chuyển từ lao động thủ công lạc hậu sang lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp hiện đại, hàm lượng trí tuệ cao, giữ gin và phát huy bản sac van hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao đời sống chất lượng con người, đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.Nông nghiệp và nông thôn (NN và NT). Cho đến nay, quan niệm về nông thôn của các quốc gia trên thé gidi còn rất nhiều đặc điểm khác nhau. Việc nghiên cứu khái niệm nông thôn nhằm thấy rõ các đặc điểm, tính chất và vai trò của địa bàn kinh tế - xã hội này, sẽ giúp cho công tác hoạch định chiến lược phát triển nông thôn trong quá trình CNH, HĐH dat nước đạt hiệu qua hon. Trong nhận thức trước kia của nhiều người, nông thôn đồng nghĩa với nông nghiệp và ngược lại.
Ngày nay, những cách hiểu mới về nông thôn đã xuất hiện như: nông thôn bao gồm cả các đô thị nhỏ với những trung tâm công - thương nghiệp mà sự tồn tại va phát triển của chúng có mối quan hệ gan bó với nông thôn, có sự phụ thuộc lẫn nhau và thúc đẩy nhau cùng phát triển. Tuy nhiên, để có được cái nhìn toàn diện và chính xác hơn, chúng ta cùng xem xét khu vực nông thôn dưới một số góc độ khác nhau như sau: Xét về mặt không gian, nông thôn là một địa bàn rộng lớn, trải ra thành các vành đai bao quanh các thành thị. Dưới góc độ kinh tế, nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành sản xuất, dịch vụ phi nông nghiệp. Đây thực sự là đặc điểm chính của nông thôn khác với đô thị, nơi mà hoạt động kinh tế tập trung hoàn toàn vào công nghiệp và dịch vụ.
Như chúng ta đã biết, một đặc điểm hạn chế lớn nhất trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn đó là: ở nông thôn cở sở hạ tầng như điện, nước, giao thông vận tải, thông tin liên lạc thường nằm trong tình trạng lạc hậu; trình độ dân trí thường kém hơn nhiều so với khu vực thành thị. Tình trạng cách biệt giữa nông thôn và thành thị về kinh tế - xã hội lại tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia. Có những quốc gia sự cách biệt đó không lớn (dẫn chứng là các nước phát triển cao), nhưng cũng có những quốc gia khoảng cách đó là rất lớn (hầu hết tất cả các nước đang và kém phát triển). Mặc dù việc đưa ra một khái niệm chung nhất về nông thôn áp dụng cho tất ca các quốc gia, khu vực trên thế giới là điều hết sức khó khan.
Tuy nhiên, theo một số tiêu chuẩn quy định nào đó thì khi bàn về vấn đề nông thôn chúng ta có thể nghĩ đến: số lượng dân cư tập trung và mật độ dân số, phát triển nguồn nhân lực và phân công lao động xã hội ở nông thôn, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, thu nhập và những điều kiện sinh sống của dân cư nông thôn, phong tục tập quán v.Qua đó có thể nói, trong từng giai đoạn phát triển, mỗi nước, mỗi khu vực đều đưa ra những tiêu chí cụ thể khác nhau cho việc phát triển kinh tế - xã hội nông thôn. -0- Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng đối với nên kinh tế quốc dân. Trước hết nông nghiệp sản xuất và cung cấp sản phẩm cần thiết cho xã hội loài người tồn tại và phát triển, là ngành kinh tế chuyên khai thác môi trường tự nhiên để sản sinh ra những thực vật và động vật có ích cho xã hội. Từ lâu đã có rất nhiều cách hiểu về nông nghiệp, tựu trung lại có thể hiểu nông nghiệp như sau: Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp chỉ bao gồm ngành trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ trong nông nghiệp, trong đó ngành trồng trọt bao gồm cây hàng năm (cây lương thực và cây công nghiệp) và cây lâu năm (cây công nghiệp: chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, điều,.); còn ngành chăn nuôi có gia súc, gia cầm và các sản phẩm không qua giết thịt.
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, nông nghiệp bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngư nghiệp. Có sự hình thành các ngành và tiểu ngành trong tổng thể ngành nông nghiệp như vậy là dựa trên cơ sở phân công lao động xã hội, trình độ và quy mô sản xuất phát triển cho phép tách việc sản xuất các nhóm sản phẩm hay các sản phẩm thành ngành kinh tế cụ thể, tương đối độc lập với nhau, nhưng lại gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình phát triển. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Theo tinh than của Nghị quyết Dai hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và Hội nghị Trung ương lần thứ 7 khoá VII, CNH nông thôn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với việc đổi mới căn bản về công nghệ và kỹ thuật ở nông thôn, tạo nền tảng cho việc phát triển nhanh, bền vững theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế ở nông thôn, góp phần phát triển bền vững nền kinh tế quốc dân với tốc độ cao.